Các loại u lành tính

Xem trong 'Sọt rác' đăng bởi nguyenanhtuann, 23/2/16, [ Mã Tin: 37861 ] [99 lượt xem - 0 bình luận]

  1. SĐT :
    0903841861
    Địa Chỉ :
    31 nguyen đình chiểu
    Gửi tin nhắn
    U tuyến đa dạng

    Trước đây, người ta gọi u là u hỗn hợp do trong u có nhiều thành phần khác nhau và các thành phần này được coi như xuất nguồn từ thượng mô và trung mô.Các tuyến nước bọt, tuyến chính và tuyến phụ đều là những cơ quan có cấu trúc túi tuyến và ống. Tuyến mang tai và tuyến dưới hàm có vỏ bao rõ rệt. Tuyến dưới lưỡi không có vỏ bao trong quá trình phẫu thuật u men xương hàm dưới Tuy nhiên, hiện nay người ta thấy rằng các thành phần giống như trung mô cũng có nguồn gốc từ thượng mô hoặc có thượng mô nên tên mới của u là u tuyến đa dạng.
    [​IMG]
    Đại thể:

    U có nhiều thùy, đường kính từ 1-6 cm, có vỏ bao rõ, nằm trong mô tuyến, hoặc lồi lên trên bề mặt dưới vỏ bao. Mặt cắt màu trắng vàng, mật độ mềm như thịt, có những vùng chắc màu xanh xám bóng (chất dạng sụn) và những vùng dạng nhầy hoặc như gelatin.

    Vi thể:

    U gồm nhiều thành phần đa dạng nằm lẫn lộn: mô nền gồm chất dạng sụn hoặc dạng nhầy hoặc dạng niêm. Có những đám mô sụn, xương, những tế bào giống tế bào gai hoặc tế bào thượng mô tuyến bã.

    Các tế bào thượng mô có thể nằm rải rác trên mô nền dưới dạng các chuỗi hoặc hợp thành ống không đều thành các bọc nhỏ hoặc dạng túi tuyến. Tế bào có thể có dạng lập phương hoặc dạng trụ, đôi khi có không bào chứa chất nhầy, tế bào có thể biệt hóa dạng gai có cầu liên bào hoặc có cầu sừng.

    Các tế bào cơ - thượng mô nhỏ và đậm màu hơn, thường đa diện, có nhân lệch một bên, có bào tương ưa eosin, vì thế cũng được gọi là tế bào giống tương bào hoặc tế bào hyalin.
    Tìm hiểu thêm phẫu thuật nang xương hàm do răng tại đây
    Đôi khi các tế bào này có hình dạng dẹp hoặc biệt hóa gai.

    Bao quanh thành phần thượng mô là mô dạng nhầy nhuộm màu kiềm có phản ứng PAS âm tính. Ngoài ra có những đám chất dạng sụn, có thể có dạng mô sụn thật nhưng bờ của những đám này nằm lẫn vào mô dạng niêm và các tế bào chung quanh. Cũng có thể có những ổ mô xương nhỏ nằm trong mô dạng niêm.

    Một số u có thành phần thượng mô chiếm ưu thế. Một số khác lại có ít thành phần thượng mô. Các u có thành phần thượng mô chiếm ưu thế thường phát triển nhanh hơn và dễ tái phát sau mổ hơn.

    U tuyến đa dạng là u lành, nhưng khi phẫu thuật u tuyến dưới hàm thì u dễ tái phát vì những lý do sau:

    Khi u ở tuyến mang tai, gần dây thần kinh mặt, đôi khi rất khó mổ lấy hết mô u dù u có vỏ bao rõ.

    Vỏ bao của u đôi khi mỏng và có chỗ thiếu vỏ bao, khó xác định khi mổ.

    Ở những nơi vỏ bao u bị thiếu, có thể có mô u trồi ra ngoài (như chân giả), dễ bị bỏ sót khi mổ bóc tách u.

    Vì vậy, tỷ lệ tái phát sau khi mổ là 5-10% các trường hợp u ở tuyến mang tai, và tỷ lệ này cao hơn nếu u ở các tuyến nước bọt phụ.

    Đôi khi, u chỉ tái phát sau 10-20 năm, khi tái phát u thường có nhiều ổ (do các chân giả còn sót lại sau mổ), trong khi tổn thương ban đầu gần như luôn luôn chỉ có một ổ.

    Dù tái phát, u vẫn hầu như luôn luôn lành tính. Vấn đề u trở thành carcinom sau khi tái phát hoặc sau khi tồn tại một thời gian dài vẫn còn đang được bàn cãi. Các quan điểm phổ biến cho rằng u vẫn lành tính dù tái phát.

    U tuyến-limpho

    U còn có 2 tên khác là u bọc tuyến nhú có mô limphô (papillary cystadenoma lymphomatosum), u Warthin.

    U xuất nguồn từ thượng mô, thành phần limphô trong u là thành phần phản ứng gồm cả tế bào B và tế bào T với tỉ lệ và cách sắp xếp giống như hạch limphô bình thường hoặc hạch phản ứng

    Hầu hết u Warthin xảy ra ở phần thấp của tuyến mang tai phủ lên góc hàm. Đôi khi u có ở hai bên. U chắc, hình cầu, vỏ bao rõ, màu xám, đôi khi có những khe hoặc những bọc chứa chất dịch đục, loãng hoặc dính.

    Vi thể:

    Các bọc hoặc các khe hẹp trong đó có chứa nhiều nhú, lót bởi thượng mô 2 lớp tế bào. Lớp tế bào bề mặt hình trụ cao, ưa eosin. Lớp tế bào bên dưới đa diện hoặc hình tháp, thường khó xác định. Các tế bào có bào tương ưa eosin đôi khi giống phồng bào (oncocyte) là những tế bào có trong các ống dẫn và túi tuyến khi các tế bào bị các biến đổi lão hóa.

    Thượng mô (của các bọc, các khe, các nhú) được nâng đỡ bởi mô limphô dày đặc, thường có cả trung tâm mầm. Trong các bọc ít có chứa các chất dạng hạt, đôi khi có tinh thể cholesterol. Có khi các chất chứa trong bọc thấm vào mô limphô gây nên phản ứng viêm hạt. Phản ứng viêm có thể làm các tế bào thượng mô trụ chuyển sản gai.

    U Warthin có xuất độ 5-15% các u của tuyến mang tai. Giới nam có xuất độ bệnh cao gấp 5 lần giới nữ. Hầu hết u lành rất hiếm (ít hơn 10%) ác tính. Điều trị bằng phẫu thuật cắt u.

    U phồng bào

    Còn gọi là u tuyến ưa eosin hay ưa acid. Chỉ chiếm tỉ lệ 10% các u tuyến nước bọt chính và không có ở các tuyến nước bọt phụ.

    Hầu hết bệnh nhân có tuổi khoảng 55-70. Giới nữ có xuất độ cao hơn giới nam.

    U có giới hạn rõ, bề mặt láng, chắc, mặt cắt sậm, thuần nhất.

    Vi thể

    Tế bào u đồng dạng, hình đa diện, màu hồng. Nhân tròn, ở trung tâm. Hiếm khi có 2 hay nhiều nhân. Các tế bào u thường xếp thành các dãy song song, đôi khi thành dạng ống hoặc dạng túi tuyến trên mô nền sợi thưa. Không có tế bào limphô.

    Cần phân biệt u phồng bào thật với tình trạng tăng sản phồng bào. Trong tổn thương tăng sản, tế bào có tỉ lệ nhân/bào tương gần giống bình thường, hạt nhân không rõ ràng, và có sự phân cực bình thường theo trục dọc của tế bào với màng đáy. Trong u phồng bào thật, ngược lại, nhân tế bào to hơn, tỉ lệ nhân/bào tương tăng lên, hạt nhân rõ, và thường mất sự phân cực.

    Rất hiếm khi u tái phát. Nếu có tái phát, thường là do không lấy hết u trong lần mổ trước.

    Loại u phồng bào ác tính rất hiếm gặp. Năm 1977, Johns và cộng sự đã tổng kết chỉ được 2 trường hợp. Về vi thể, không có sự khác biệt đáng kể so với u lành. Di căn đến hạch limphô vùng.

    U tuyến tế bào đáy

    Các vị trí thường gặp nhất là tuyến mang tai và các tuyến nước bọt phụ ở vòm khẩu cái cứng, ở môi trên.

    Bệnh nhân thường có tuổi 60-75. Nam giới và nữ giới mắc bệnh như nhau.

    U thường có dạng cục, giới hạn rõ, chắc, đôi khi có dạng bọc nhầy.

    Vi thể:

    Thường được xếp chung nhóm với u tuyến đa dạng, chỉ khác với u tuyến đa dạng ở chỗ u không có các tế bào cơ- thượng mô. Hình thái vi thể có 3 dạng: dạng bè ống, dạng ống nhỏ, và dạng giống tế bào đáy. Dạng ống nhỏ, là dạng thường gặp nhất và dễ gây nhầm lẫn nhất với carcinom bọc dạng tuyến, gồm những mao mạch và tiểu tĩnh mạch trong các bọc nhỏ của u. Có thể đây là loại lành tính của carcinom bọc dạng tuyến.

    U tuyến bọc dạng nhú

    Hiếm gặp, có ở tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và các tuyến nước bọt phụ ở khẩu cái, niêm mạc miệng, sàn miệng.

    Vi thể:

    U có những khoảng trống dạng tuyến chứa mucin, lót bởi tế bào thượng mô trụ cao, có bào tương ưa eosin, do tăng sản các ống dẫn. Không có mô limphô (phân biệt với u Warthin)

    U cơ-thượng mô

    Hiếm gặp. U chỉ gồm có các tế bào cơ-thượng mô. Vị trí thường gặp là tuyến nước bọt phụ. Bệnh nhân trẻ.

    U có thể khu trú, có giới hạn rõ hoặc xâm nhập tại chỗ.

    Vi thể:

    U có 2 loại: u cơ-thượng mô loại tế bào dẹt và hình sao, u cơ-thượng mô loại tế bào giống tương bào.

    Cũng có tác giả mô tả loại tế bào sáng và loại ác tính.

    U tuyến-limphô của tuyến bã

    Hiếm gặp. Cho tới năm 1976, chỉ có 12 trường hợp được ghi nhận. Bình thường, có khoảng 1/3 người lớn có mô tuyến bã trong tuyến mang tai. U gồm các tuyến bã tăng sản nằm trong mô limphô bình thường.

    Ung thư tuyến nước bọt

    Bảng phân loại của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (xin xem bảng) chia các u của thượng mô tuyến nước bọt làm 2 nhóm lành và ác. Giữa 2 nhóm trên là u nhầy bì và u tế bào túi tuyến có tiềm năng ác tính vì diễn tiến sinh học khi lành khi ác.

    U nhầy bì

    Chiếm tỷ lệ 2-7% các u tuyến nước bọt, thường gặp nhất ở tuyến mang tai, ít gặp ở tuyến dưới hàm. Ở các tuyến nước bọt phụ, u nhầy bì là loại ung thư thường gặp thứ nhì.

    Đại thể:

    U có giới hạn không rõ, vỏ bao không hoàn toàn. Trên mặt cắt, u có thể đặc, bọc hoặc nửa bọc nửa đặc. Trong bọc có chứa chất nhầy trong và loãng, hoặc đục, đặc và dính.

    Vi thể:

    Tế bào u gồm hỗn hợp tế bào gai, tế bào chế tiết nhầy và tế bào có mức biệt hóa trung gian giữa 2 loại trên. Các tế bào này xếp thành chuỗi, đám, hoặc thành cấu trúc bọc. Các tế bào trung gian là những tế bào lai mang đặc tính của tế bào gai và có không bào (nhỏ hoặc to) chứa đầy chất nhầy, có phản ứng dương tính với phương pháp nhuộm PAS hoặc mucicarmine. Tế bào u có thể biệt hóa tốt với nhân nhỏ đều, có thể biệt hoá kém hơn với nhân có kích thước khác nhau đổi, tăng sắc và có khi có nhân chia. Thành phần gai có thể có cầu sừng, cầu liên bào. Hình thái thường gặp là những đám tế bào gồm tế bào gai ở vùng ngoài, các tế bào tiết nhầy ở trung tâm và các tế bào trung gian thì ở giữa 2 vùng trên. Mô đệm quanh các đám tế bào thượng mô thường không rõ ràng.

    Biểu hiện và diễn tiến lâm sàng của u rất khó xác định. Nhiều trường hợp có sự phù hợp giữa diễn tiến lâm sàng với hình thái mô học. Nói chung, có khoảng 40% trường hợp ác tính thì trong u thành phần ưu thế là các tế bào tiết nhầy và các cấu trúc bọc rõ ràng. Nhưng ngay cả các u có độ biệt hóa rõ như vậy vẫn có thể cho di căn. Còn các loại biệt hóa kém thì thường đặc, cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào dạng thượng bì và tế bào trung gian với nhân đa dạng, có phân bào. Các loại biệt hóa kém cũng thường xâm nhập vỏ bao u, mạch limphô, quanh dây thần kinh và có tiên lượng xấu.



    Read more: http://www.dieutri.vn/bggiaiphauben...hau-benh-cua-tuyen-nuoc-bot.htm#ixzz40xRKk63Q
     

    Last edited by a moderator: 23/2/16