Thảo luận Đồ Cổ là gì ????

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi luat.ngo, 19/10/15, [ Mã Tin: 27388 ] [714 lượt xem - 0 bình luận]

  1. luat.ngo

    luat.ngo (19 )

    BAN QUẢN LÝ (6)

    Chất lượng tạo thương hiệu - Uy tín giữ thành công - Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    SĐT :
    0945621800
    Zalo :
    0932355523
    Địa Chỉ :
    Tân Hòa Đông, P.Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP.HCM
    Gửi tin nhắn
    Đồ cổ là những sản phẩm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá khứ lịch sử, bằng nhiều chất liệu khác nhau, được bảo tồn đến ngày nay.

    Đổ cổ có rất nhiều loại, bằng nhiều chất liệu và có giá trị trên nhiều mặt. Từ những đồ cổ được sưu tập, sắp xếp có hệ thống và xác định niên đại hoặc thời đại, người ta có thể thấy được trình độ kỹ thuật, thẩm mỹ, tư tưởng, tình cảm của con người và cộng đồng dân tộc trong mỗi triều đại, thời kỳ lịch sử có thể hiểu được nền văn hóa, văn minh của dần tộc ấy. Thông thường, đồ cổ có ý nghĩa và giá trị nổi bật trên hai mặt: mỹ thuật và kinh tế. Về mặt mỹ thuật, đổ cổ đem lại cho chúng ta tình cảm thẩm mỹ, thưởng thức cái đẹp hiếm có do người xưa để lại. Về mặt kinh tế, đồ cổ có thể được định giá bằng tiền bạc, bằng vàng với giá trị vật chất lớn, đo đó đồ cổ có thể được trao đổi, mua bán như những hàng hóa đặc biệt. Thú chơi đồ cổ xuất phát chủ yếu từ yếu tố mỹ thuật của đồ cổ. Nghề buôn đồ cổ xuất phát từ giá trị kinh tế của sản phẩm này. Từ giá trị to lớn của đồ cổ và nhu cầu sử dụng rộng rãi chúng đã nảy sinh nghề làm giả đồ cổ. Thú chơi ấy các nghề ấy xuất hiện và song song tồn tại ở nước ta, cũng như trên thế giới từ lâu đời. Việc sưu tầm, săn lùng và buôn bán đồ cổ xưa nay đã đem lại không ít vinh quang, sự giàu có, nhưng cũng xảy ra nhiều bất hạnh, đắng cay cho con người.

    Người Việt Nam, từ Huế vào Nam thường gọi các loại mỹ nghệ phẩm được làm ra khoảng trăm năm về trước là đồ xưa.

    Còn người miền Bắc thì gọi chúng là đồ cổ. Bây giờ, thuật ngữ đồ cổ đang được dùng rộng rãi trong cả nước, chỉ tất cả các sản phẩm cổ xưa, phần lớn đều quý hiếm: đồ đồng, đồ đá, đồ vàng bạc, đồ gỗ, sách cổ, v.v... từ trống đồng, tượng đồng, đồ đá, đồ gốm, bàn ghế, hòm tủ, đến câu đối, hoành phi, tranh khắc tiền cổ... Còn ngành bảo tàng thì gọi chúng bằng thuật ngữ cổ vật, hiện vật cổ.

    1. Cổ vật bảo tàng

    Cổ vật quốc gia được lưu giữ ở các nhà bảo tàng trong nước. Xin hãy đến Viện bảo tàng Hà Nội, nơi đang lưu giữ, bảo quản tới 5.500 cổ vật... trong hầm tối - theo đúng nghĩa của từ này. Các nhà chuyên môn cho biết đây là một kho tàng vô giá có một không hai ở Việt Nam. Người duy nhất đang có trách nhiệm quản lý kho cổ vật này là bà Lê Kim Nguyên, tốt nghiệp khoa Bảo tàng Đại học Lômônôxốp (Liên Xô cũ), chuyên viên cổ vật của Viện Bảo tàng Hà Nội. Đến nay, Viện đã có bộ hồ sơ hàng nghìn trang về các cổ vật của mình, do bà Lê Kim Nguyên âm thầm thiết lập trong suốt 4 năm qua.

    Mỗi trang hồ sơ ấy mô tả một cổ vật, bằng 4 tấm ảnh, kèm theo một bảng lý lịch ghi rõ tên cổ vật, nơi xuất xứ, chất liệu kích thước, kiểu thức trang trí. Niên đại, ngày xác định niên đại, người xác định niên đại, v.v... Chồng tài liệu dày 3.300 trang chất cao từ nền nhà lên quá đầu người. Nếu một người xem liên tục có lẽ phải mất một tháng mới hết bộ hồ sơ này. Bà Lê Kim Nguyên giải thích: ''Có tất cả 5.500 hiện vật, nhưng chúng tôi mới phân loại được 3.300 cái''.

    Thực ra, người chuyên viên cổ vật rất đáng khâm phục này chỉ trông coi cổ vật qua cái ảnh chụp trong bộ hồ sơ lớn đó, đồng thời cũng là công cụ để bà giới thiệu vốn cổ vật với đồng nghiệp và khách thăm quan, nghiên cứu khi cần thiết. Còn kho đồ cổ thì để ở dưới tầng hầm kiên cố của tòa nhà Bảo tàng. Cửa kho luôn luôn có giấy niêm phong và lần lượt ba lớp khóa. Theo phóng viên tờ tuần báo Thanh niên Huỳnh Ngọc Chênh (Số 22(462) ra ngày Chủ nhật 27-2-1994) thì trước đây, người tiền nhiệm của Lê Kim Nguyên đã phải bị tù oan trong Hỏa Lò chỉ vì đánh rơi tượng ngọc bích vào trong một lọ bình mà ba năm sau mới tình cờ phát hiện được.

    Kho cổ vật có hàng ngàn hiện vật từ tranh, tượng cổ của Trung Quốc, Nhật Bản đến đồ đồng cổ Việt Nam; từ đồ gốm đời Minh, Thanh đến đồ gốm sứ, ngà ngọc đời Lý, Trần cho đến các vật dụng cổ của người Âu Châu. Theo niên đại, trong kho này có mặt đầy đủ các hiện vật từ trước Công nguyên cho đến đầu thế kỷ XX. Các cổ vật ở đây - dấu tích văn hóa hàng nghìn năm của Việt Nam và nhiều dân tộc khác, một di sản quý giá của nhân loại được dồn nén lại trong một diện tích 50 m2 của căn hầm.

    Nếu phân loại theo chất liệu, kho cổ vật này có các loại: đồ gốm, đồng, đá, ngà, ngọc, vàng, bạc, thủy tinh, da, gỗ, giấy,v.v…; phân theo chủng loại, có tới 40 loại, gồm tranh, tượng, chuông, trống, bình, lọ, thạp, thống, chóe, chén, bát, ly, tách, bình vôi, nậm, đồng hồ, bàn là v.v... ; theo quốc tịch, chúng có xuất xứ ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Ấn Độ và một số nước Châu Âu. Các cổ vật được xếp chất chồng trên các bệ gỗ, được bày la liệt trên sàn hầm, được dựng trong các thùng gỗ, hòm thiếc, giỏ tre...

    Nguyên là những cổ vật trôi nổi, chúng được tập hợp lại một cách khác thường.

    Loại cổ vật đầu tiên mà Bảo tàng Hà Nội hiện có là do lượm nhặt được từ đống vật đựng bát nháo. Trong số ấy, quan trọng nhất là nhóm đồ đồng Đức Giang. Người ta định gom lại để đưa đi nấu đồng, nhưng may sao một vài người có trách nhiệm biết được đó là đồ cổ rất quý giá nên nhặt ra và đem về giao cho Bảo tàng cất giữ. Đồng thời, hàng trăm đồ sành sứ gốm quý hiếm thời Minh, Thanh và Lý, Trần cũng được thu lượm theo con đường này.

    Một loại tượng bằng đồng, gỗ, sành... của chiều đình, chùa, am, miếu được thu về khi các nơi tôn nghiêm ấy bị sập đổ, bị bom đạn chiến tranh, bị phá dỡ hay biến thành nhà kho, văn phòng hợp tác xã, hoặc tượng bị thu giữ chuẩn bị hủy trong phong trào chống mê ám dị đoan và nhiều hoàn cảnh xót xa.

    Số khá lớn đồ cổ khác nữa của Bảo tàng Hà Nội do các cơ quan quản lý văn hóa và bảo vệ pháp luật (Công an, Hải quan, Quản lý thị trường) chuyển giao. Đó là kết quả điều tra và khám phá các vụ buôn lậu đồ cổ ra nước ngoài. Trong số đồ cổ chuyển giao, có đôn nghê bằng đồng trị giá hàng triệu đôla Mỹ (USD), nhưng năm 1991 bọn buôn lậu đã đem bán cho một người ngoài với giá 50.000 USD, cơ quan công an kịp phát hiện và thu lại được. Hoặc như bộ Long Đỉnh Bát Tràng, các đỉnh sứ, lục bình cao 1,40m có niên đại thế kỷ XIV,v.v… cũng tịch thu được từ bọn buôn lậu.

    20 trống đồng Cổ Loa cũng được tàng trữ tại kho cổ vật này. Chúng được tập hợp từ 20 địa điểm khác nhau, với những bối cảnh riêng biệt. Đây là bộ sưu tập vô cùng quý giá, khá hoàn chỉnh về trống đồng Cổ Loa (từ thời An Dương Vương về sau) mà không nơi nào có được, kể cả Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Bác Cổ, Hà Nội).

    Cho đến nay, công việc phân loại cổ vật của Viện Bảo tàng Hà Nội mới tiến hành được chưa quá 2/3. Số cổ vật chưa lập hồ sơ, phân loại còn hơn 2.000 đơn vị. Hiện trạng đó cần phải khắc phục, nhưng do những khó khăn thực tế về tài chính và cơ sở vật chất. Thêm vào đó, Viện chưa có một địa điểm trưng bày nên cổ vật vẫn bị ''giam'' trong hầm kín. Bao trùm lên hết thảy các trở ngại ấy là yêu cầu bảo vệ an toàn đối với vật quốc gia một khi đem ra trưng bày, giới thiệu rộng rãi.

    Bà Lê Kim Nguyên cho biết: Cổ vật có giá trị rẻ nhất khoảng 8 triệu đồng. Cái đắt giá nhất phải tính đến tiền triệu USD. Nhưng theo bà, đồ cổ con có một giá trị khác, rất cao, không thể định giá bằng tiền bạc. Chúng là nguồn tài liệu (hiện vật) hết sức quý giá cho những người nghiên cứu lịch sử, văn hóa, khảo cổ học. Chúng góp phần quan trọng cho việc hoàn thành nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học về quá khứ.

    Vậy thì cổ vật bảo tàng cần đem ra giới thiệu cho công chúng, nó không thể bị ''giam'', nhưng phải giữ gìn và bảo vệ nghiêm ngặt.

    2. Những cổ vật men Celadon (Xêladông) ởHòn Dầm, Phú Quốc

    Khoảng 200 loại “đại diện” cho 15.359 đơn vị cổ vật (đồ cổ), tất cả đều là đồ gốm men Céladon, trục vớt ở biển ven Hòn Dầm, Phú Quốc (Kiên Giang) đã được đem triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, khai mạc vào ngày 1-9-1993.
    Anh 10.jpg
    Kho tàng gốm cổ có giá trị này do tỉnh Kiên Giang và Liên hiệp Xí nghiệp trục vớt cứu hộ (Visal) không có liên doanh với một công ty nước ngoài nào, trục vớt tại Hòn Dầm vào năm 1991. Khu vực tàu chìm tương đối cạn, chỉ khoảng 20m bề sâu, nên việc trục vớt thuận lợi. Đây là cuộc trục vớt đồ cổ tàu đắm tại Hòn Dầm có quy mô và bài bản nhất, cũng là lần vớt triệt để các cổ vật trong con tàu đắm này.

    Nói lần vớt quy mô, bài bản và triệt để nhất, bởi trước đó cổ vật ở đây đã được vớt khá tự do sau khi phát hiện ra ''kho báu''.

    Trở lại khởi điểm cách đây khoảng 20 năm, có vài ngư dân ở Phú Quốc, có lần đã câu được... cái tô! Lưỡi câu của họ mắc vào cái tô dính hầu (hà). Họ cho rằng cái tô ấy của ''bà'' của “cậu” nên vội khấn vái và thả ngay tô xuống biển để trả ''thần''. Trong số họ, có người táo tợn hơn đã mang tô về nhà, như ông Nguyễn Văn Hoành (xóm 3, ấp 1, xã An Thới, Phú Quốc), cũng chỉ dám để trên bàn thờ làm đồ thờ.

    Thời gian qua đi, câu chuyện những cái tô kỳ lạ như truyền thuyết chắc không còn làm cho ngư dân trong vùng biển Hòn Dầm chú ý, nếu không diễn ra sự kiện mới. Đó là sự kiện các cổ vật trục vớt ở Hòn Cau, Côn Đảo được đem bán đấu giá tại Am-stéc-đam được 6,7 triệu USD vào năm 1990, làm xôn xao dự luận. Thế là các thợ lặn ở Phú Quốc thi nhau đến vũng Ông Đực vớt đồ tàu đắm. Họ vớt lên được rất nhiều đồ gốm và tiền cổ. Đồ vớt được đem bán rẻ như cho ở chợ An Thới. Cấp ủy xã An Thới thấy vậy, đã kịp thời báo cáo lên huyện. Lãnh đạo huyện không hiểu giá trị các đồ vật ấy, cho là vật bình thường, nên không đánh thuế và để cho dân vớt bán tùy ý. Ngay cả một số đơn vị, cơ quan ở địa phương cũng đi vớt đồ cổ bán gây quỹ. Bán 3 lô gốm cổ này chỉ được 180 nghìn đồng. Có người đem 200 đồ gốm cổ đi gán nợ, bình quân mỗi cái chỉ 5.000 đồng, mà chủ nợ cũng không nghe!
    Celadon-mat-rong.jpg
    Đã có bao nhiêu đồ cổ được mò vớt tự phát và mua bán tự do như thế, đến nay vẫn chưa ai thống kê được.

    Đầu tháng 5 năm 1991, các cơ quan hữu trách của tỉnh Kiên Giang đã kiểm tra đánh giá tình hình nói trên và cho tiến hành trục vớt. Kết quả thật bất ngờ. Trừ những chiếc bị vỡ hỏng, còn lại 15.539 cổ vật gốm Céladon đã được vớt lên nguyên vẹn, cùng với chiếc ngà voi (sơ chế, đường kính 2,5 cm, dài 20 cm), 7 cục thiếc lớn, 8 trong 10 đồng tiền cổ còn nguyên (hình tròn, có lỗ vuông) mang dòng chữ Hoàng Tông thông bảo, Chí Nguyên thánh bảo, Tường Phù thông bảo, Vĩnh Lạc thông bảo đều của Trung Quốc đương thời.

    Gốm men Céladon ở Hòn Dầm là một loại gốm rất quý thời Tống - có màu xanh lá cây nhạt, có điểm lấm tấm như hạt bụi - gọi chung là gốm Tống.

    Thợ gốm Trung Quốc thời nhà Tống (980 - 1279) phát hiện và sử dụng men ấy để tráng các loại tô, bát, đĩa, bình, chậu, thống... Thoạt đầu thợ giỏi sản xuất gốm tập trung ở Hồ Nam. Bị quân Kim đánh chiếm, thợ Bắc Tống, nhất là thợ gốm hoàng gia phải chuyển tới Hàng Châu để tiếp tục sản xuất, đồng thời cũng xuất hiện một số lò gốm tại Thổ Cương.

    Năm 1279 nhà Tống bị tiêu diệt. ''Theo một vài sách kể, thì thợ gốm di thần nhà Tống, không khứng phục nhà Nguyên, đã kéo đi lập nghiệp nơi ba chỗ khác nhau đều có sản xuất Céladon, đó là: Cao Ly quốc, An Nam quốc (vùng Thanh Hóa) và Xiêm La quốc (vùng Savankhalog)''. (Vương Hồng Sển – Thú chơi cổ ngoạn; tr. 308-309).
    gom su thoi ly tran 3.jpg
    Các loại gốm Tống, do hình dáng và màu men độc đáo, ngay thế kỷ 15 đã được ưa chuộng ở vùng Cận Đông, và sau đó, bắt đầu xuất hiện tại thị trường châu Âu vào thế kỷ 17. Ở Pháp, dưới thời vua Lu-i 16 (Louis 16) (1774-1791), loại gốm này trở thành món hàng thời trang của giới quý tộc cung đình và thị dân khá giả. Người ta đặt cho nó cái tên Pháp là gốm Céladon. (Céladon - tên chàng chăn cừu rất lãng mạn trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Ô-nô-rê Đờ Uých-tê (Honoré d'Urté) - ý nói loại đồ gốm lãng mạn).

    Trở lại cổ vật gốm Céladon ở Hòn Dầm. Theo kết quả giám định của Hội đồng Giám định cổ vật thuộc Bộ Văn hóa - thông tin, các đồ gốm này được kết luận: Chúng xuất xứ từ Thái Lan, do Thái Lan sản xuất vào thời gian đầu thế kỷ 15.

    Văn phòng Chính phủ nước ta đã chỉ thị giữ lại cho Bảo tàng lịch sử Trung ương, Bảo tàng Mỹ thuật và Bảo tàng tỉnh Kiên Giang mỗi nơi 2 bộ, bao gồm các đồ gốm còn nguyên vẹn (lành lặn, men bóng, sáng) và tiền cổ vớt ở Hòn Dầm. Tổng số đồ gốm giữ lại là 126 chiếc, tiền cổ không nhiều lắm, được lựa chọn kỹ, đánh ký hiệu lưu trữ và dĩ nhiên được bảo vệ lâu dài. Số cổ vật còn lại, chiếm phần lớn, tới hơn 15 nghìn chiếc được đem trưng bày và bán trong nước, nước ngoài.

    Kết quả giám định về xuất xứ đồ gốm cổ ở Hòn Dầm của cơ quan chức năng ngành Văn hóa chưa làm cho một số nhà nghiên cứu gốm cổ nhất trí. Người ta còn nghi vấn vế xuất xứ các cổ vật này. Trên tờ Nguyệt san Thanh niên (số 32, tháng 11-1993), tác giả Q.H. (không ký rõ tên) nêu lên nhận xét và quan điểm của mình về sự ''nghi vấn'' ấy:
    gom-celadon-koryo-trieu-tien-6.jpg
    “Đồ gốm Tống... vào thế kỷ 15 được sản xuất tại 4 nơi: Trung Quốc, Cao Ly (Triều Tiên), Savankhalog (Thái Lan) và Thanh Hóa (Việt Nam). Đồ Tống Thanh Hóa rất mỏng mảnh, nhẹ làm bằng đất nung, men ngà ngà và bóng, không có ánh kim sa. Cao Ly Quốc ở quá xa vùng biển Phú Quốc. Như thế, đồ cổ vớt được ở Hòn Dầm chỉ có thể là gốm Trung Quốc hoặc Savankhalog”.

    “Vậy căn cứ vào đâu để phân biệt hai loại đồ gốm cùng cấu trúc cùng hình dáng, cùng có màu men Celadon đặc trưng này? Nếu đúng là thuyền Thái Lan, tại sao trên thuyền chỉ có tiền cổ Trung Quốc tương ứng với thời gian tiền ấy được sử dụng? Theo chúng tôi biết, lúc ấy ở Việt Nam không dùng tiền Hán để trao đổi mua bán! Và dẫu sao, thủy thủ nước nào cũng phải ''lận lưng'' vài đồng bạc của nước mình. Lại nữa, nếu thuyền Thái Lan chở đồ về hướng Phú Quốc, thì chắc chắn không phải để xuất khẩu sang vùng Cận Đông hoặc phương Tây... Một đoàn du khách người Đức (do cán bộ Việt Nam hướng dẫn) đến thăm nơi trưng bày cổ vật Hòn Dầm (4-9-1993), nhận xét: ''Đây là đồ cổ Trung Quốc''.

    Toàn bộ số gốm cổ này đều bằng chất liệu nặng, hoặc phủ một lớp men Céladon có trang trí hoa văn để trơn (không tráng men, không hoa văn). Chúng nặn bằng một thứ nguyên liệu: sa thạch; có thể chia chủng loại chính. Mỗi chủng loại được dùng 3 loại nguyên liệu đất khác nhau, tạo thành các vật phẩm có trọng lượng và thuốc khác nhau. Như vậy, 15.359 món đồ cổ này bao loại khác nhau.

    Mặc dù vẫn chưa thống nhất về xuất xứ của “kho báu” Hòn Dầm, từ Thái Lan hay từ Trung Quốc, nhưng về giá trị của nó thì ai cũng thừa nhận là quý và cổ. Đây là kho quý, có thể làm phong phú thêm kho tàng cổ vật của nước ta, mặt khác, đã đem lại một số tiền, nhất là ngoại tệ mạnh cho ngân sách Nhà nước.

    Việc giới thiệu, trưng bày các cổ vật này (chủ yếu là Đồ gốm Céladon) có ý nghĩa tích cực góp phần nâng cao kiến thức về một loại đồ cổ rất quý giá: gốm Tống hay gốm men Céladon.