Đồ sứ tế tự hiệu đề Khánh Xuân Thị Tạ và Nội Phủ Thị Hữu (p1)

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi luat.ngo, 18/3/15, [ Mã Tin: 17370 ] [512 lượt xem - 3 bình luận]

  1. luat.ngo

    luat.ngo (19 )

    BAN QUẢN LÝ (6)

    Chất lượng tạo thương hiệu - Uy tín giữ thành công - Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    SĐT :
    0945621800
    Zalo :
    0932355523
    Địa Chỉ :
    Tân Hòa Đông, P.Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP.HCM
    Gửi tin nhắn
    Trong cuốn sách Lịch triều hiến chương loại chí, sử gia Phạm Huy Chú cho biết: “Theo chế độ cũ, Chính cung miếu thờ các vị chúa từ Thế Tổ [Trịnh Kiểm] trở xuống, Hữu cung miếu thờ hai vị Lương Mục vương [Trịnh Vĩnh] và Tấn Quang vương [Trịnh Bính]. Năm Nhâm dần đời Cảnh Hưng [1782] Tĩnh vương [Trịnh Sâm] đổi tên Chính cung miếu gọi là Thái miếu, truy tôn hiệu cho hai vương, rước vào thờ chung ca ở Thái miếu vào hàng chiêu, hàng mục”.1

    Sách Đại Việt sử ký tục biên cũng chép rằng: Năm 1711, An Đô vương Trịnh Cương tụ họp các quan chức lại để thảo luận về việc thờ phụng ông nội của mình là Lương Mục công Trịnh Vĩnh và cha của mình là Tấn Quang vương Trịnh Bính2 tại Chính cung miếu. Có một vài người không tán thành ý kiến này nên đề nghị xây dựng một miếu khác trong phủ chúa. Nguyễn Quý Đức gợi ý rằng “Việc thờ phụng hai nhân vật thuộc nhánh trưởng của họ Trịnh này cần phải được đặt tại chính cung của đền Đông”.3 Trịnh Cương theo lời khuyên này và tấn phong ông và cha của mình lên tước Lương Mục vương và Ấn Quang vương. Đến năm 1782, chúa Trịnh Sâm mới cho dời hai bàn thờ này vào Chính cung miếu, đổi tên miếu này là Thái miếu, như tên gọi miếu thời các vua.
    Theo nghi lễ quy định trong Kinh Lễ, trong Thái miếu thờ liệt đế, chỉ được thiết bài vị của 5 đời vua mà thôi. Vì vậy, trong Chính cung miếu thì chỉ Trịnh Kiểm được thờ như Thái tổ và Bình An vương Trịnh Tùng được thờ với tư cách là vị chúa đầu tiên. Các bài vị của các 14 vị khác, từ đời Tuy Đạo vương đến đời chúa Trịnh Sâm, cần phải dẹp đi dần dần.
    Khi chúa Trịnh Sâm cho đổi tên Chính cung miếu thành Thái miếu, đã cho lập miếu thờ riêng của các vị tiên tổ khác là: Diễn Khánh công Trịnh Lan và Dục Đức công Trịnh Lân, là ông nội và cha của Trịnh Kiểm, ở phía trên toà kim thất thứ nhất. Với các nghi thức thờ cúng này, rõ ràng Trịnh Sâm đã tiếm dụng nghi vệ, tự coi mình ngang hàng với vua Lê.
    Hàng năm, vào ngày kỵ, Thái miếu đều cử hành lễ cáo tế. Các lễ cúng này được tổ chức rất huy hoàng, gồm khoảng ba chục mâm cỗ cúng, với hai trăm món ăn, một con heo lớn, một con trâu và năm con bò. Các đồ cúng này vượt xa về số lượng cũng như về chất lượng so với cỗ cúng tại miếu thờ các vua Lê. Phạm Đình Hổ, người đã tham dự một buổi lễ tại Thái miếu, đã than vãn trong cuốn Vũ trung tùy bút rằng: “Lễ trong nội điện thì cứ lệ năm trăm xã phải cúng ứng. Nhưng xã ấy phần nhiều là nơi đất xấu, dân nghèo. Nhiều xã thiếu tiền cung ứng, không đủ nhu dụng về lễ phẩm, cho nên những ngày giỗ lễ nhà Thái miếu và điện Chí Kinh, thì bò lợn gầy nhỏ, cỗ bánh sơ sài, bánh đường thì chỉ dùng nước quả dành tẩm vào cho vàng, nước mật thì thay bằng nước chè tươi, nên chỉ có màu sắc vàng mà không có vị ngọt gì cả. Ta khi nhỏ có đi qua nhà Thái miếu, gặp ngày giỗ liệt thánh nhà Lê, thấy một tên lính gánh nổi hai con trâu, hoặc một người gánh nổi bốn mâm xôi”.4
    1. Chính cung miếu và đồ sứ Khánh xuân thị tả đời Trịnh Sâm
    Trịnh Sâm được cho là người đã đặt làm các món đồ sứ tế tự hiệu đề Khánh xuân thị tả này. Có rất nhiều cách giải thích ý nghĩa của hiệu đề này:
    - Loan de Fontbrune dịch Khánh xuân“mừng xuân”5 hay “cung điện của mùa xuân vĩnh cửu”. Nhưng tại Thăng Long không hề có cung điện nào mang tên này, trong cung vua cũng như trong phủ chúa.
    - Trần Đình Sơn đề nghị xếp các đồ sứ này là đồ đặt làm nhân dịp lễ Khánh Thọ của vua Lê, tổ chức tại điện Cần Chính để đón mừng mùa xuân. Đề nghị này dựa vào hai chữ Khánh - Thọ viết trên món đồ. Vậy thì các món đồ sứ hiệu đề Nội phủ thị hữu cũng có viết hai chữKhánh - Thọ thì sẽ hàm ý gì?
    - Trần Đức Anh Sơn dẫn lời Vương Hồng Sển, cho rằng sau khi gửi sứ bộ sang Trung Hoa vào năm 1777 để cầu phong cho chúa Trịnh làm vua nhưng thất bại, để tiếp tục nhận được các ân huệ của vua Lê Hiển Tông, chúa Trịnh Sâm dâng các đồ Nội phủ thị... cho vua và đặt làm đồ sứ mang hiệu đề Khánh xuân thị tả cho mình. Nhưng không có tài liệu nào chứng minh cho sự hạ mình này của chúa Trịnh. Ngược lại, vua Lê Hiển Tông lúc nào cũng được mô tả là người chịu ơn chúa Trịnh Sâm đã đảm nhận giúp nhiệm vụ trị vì. Thậm chí khi xảy ra xung đột giữa hai anh em Trịnh Khải và Trịnh Tráng, nhà vua đã không nghe những lời khuyên của cận thần là tranh thủ thời cơ này để nổi dậy giành lại quyền hành, mà lại còn dọa là sẽ tố cáo họ với chúa Trịnh. Thêm vào đó, sứ bộ rời Thăng Long để đi Bắc Kinh là vào năm 1783, tức là một năm sau khi Trịnh Sâm mất.
    - Ngoài ra, còn có hai ý kiến khác cho rằng đồ sứ Khánh xuân thị tả là dòng đồ sứ tế tự được làm vào đời Trịnh Sâm. Ý kiến thứ nhất xuất phát từ nguyên tắc là lễ Điện Thọ được tổ chức để mừng sinh nhật các chúa, và vì Trịnh Sâm sinh vào ngày 9 tháng 2 năm Kỷ mùi (1739) tức là vào mùa xuân, nên đồ sứ Khánh xuân thị tả là đồ sứ được ký kiểu để ghi nhớ sự kiện này. Ý kiến thứ nhì do Phạm Hy Tùng đề xuất, cho rằng đồ sứ Khánh xuân thị tảđược dùng tại Tả điện trong cuộc lễ mừng xuân, để tưởng nhớ tổ tiên và xin trời đất ban phúc cho dòng họ Trịnh.
    Theo tôi thì đồ sứ Khánh xuân thị tả là đồ tế tự trong Chính cung miếu. Từ tả dùng trong hiệu đề để nhấn mạnh sự quan trọng của dòng đồ này so với dòng đồ sứ có các hiệu đề Nội phủ thị… Khánh xuân là một từ ẩn dụ để chỉ sự tôn kính của chúa Trịnh đối với tổ tiên của mình.
    Về mặt mỹ thuật và kỹ thuật, đồ sứ Khánh xuân thị tả được thực hiện tỉ mỉ hơn các đồ sứNội phủ thị… Cốt sứ mỏng, lớp men phủ trong và bóng, trang trí tỉ mỉ, tinh tế và chính xác.
    Ngoại trừ một chiếc đĩa vẽ đồ án “cá hóa rồng” (ảnh 1), thì lối trang trí duy nhất được sử dụng để tô điểm cho dòng đồ Khánh xuân thị tả là đồ án “long lân khánh thọ”. Đồ án này gồm hai chữ Khánh - Thọ được viết theo lối chữ triện trong hình tròn (ảnh 2a) như một lời cầu chúc, cùng với hình con rồng có năm móng xòe ra, hai sừng, bộ râu quặp và hình con lân có một sừng hoặc hai sừng, trên thân có hình ngọn lửa, với các nét đặc trưng của đồ sứ ký kiểu đời Trịnh Sâm.


    2a.JPG 11.JPG
    hình : 1 hình : 2a


    2. Đồ sứ Khánh xuân thị tả và đồ sứ Nội phủ thị hữu đời Trịnh Sâm
    2.1. Đồ sứ Khánh xuân thị tả ký kiểu thời kỳ đầu

    Hình vẽ một con rồng trên cao nhìn một con rồng đang biến hóa từ một con cá ở dưới biển (hình 40) trên chiếc đĩa hiệu đề Khánh xuân thị tả6 thuộc sưu tập Phạm Hy Tùng là hình vẽ rất đặc biệt. Con rồng ở dưới biển thực chất là con cá chép, như bốn con cá chép được vẽ ở mặt ngoài chiếc đĩa, ở giai đoạn cuối cùng của sự biến hóa. Đồ án “cá hóa rồng” này thường sử dụng trong văn hóa Hán - Việt. Các nhà nho lựa chọn biểu tượng này như một lời chúc thành công trong thi cử và thăng tiến trong quan lộ.
    Trên một chiếc đĩa Khánh xuân thị tả khác vẽ con rồng với cặp cánh, gọi là feiyu (phi ngư), xuất hiện trong văn hóa Trung Quốc vào cuối thế kỷ XV dưới thời nhà Minh (1368 - 1644). Chúa Trịnh đã chọn đồ án này để phân biệt với hình ảnh cá hóa rồng thông thường. Những món đồ sứ Khánh xuân thị tả với lối trang trí này mang tính biểu tượng rất cao, hoàn toàn khác biệt với đồ án “long lân khánh thọ”, và chỉ để sử dụng trong Thái miếu. Miếu này dùng để thờ cúng các vị tổ Diễn Khánh công Trịnh Lan và Dục Đức công Trịnh Lân của họ Trịnh. Hai vị này không được phong tước vương nên không được biểu thị bằng con rồng năm móng. Còn con rồng hai cánh thì tượng trưng cho chúa Trịnh Sâm.
    Với những món đồ dùng trong Chính cung miếu, chúa Trịnh Sâm đặt làm những món đồ sứKhánh xuân thị tả với một kiểu trang trí duy nhất là “long lân khánh thọ”: con lân đứng trên ngọn sóng, quay đầu nhìn con rồng năm móng đang bay trên trời, ở giữa là hình chữ Khánh, viết phía trên chữ Thọ, đều là kiểu chữ triện tròn. Trang trí này cũng mang ý nghĩa biểu trưng cao: chúa Trịnh Sâm không thể cho vẽ hình hai con rồng như trên những món đồ sứ hiệu đề Nội phủ thị trung, mà do phận làm con nên ông chỉ có thể chọn con kỳ lân để tượng trưng cho mình. Lân kết hợp với sóng nước có ý nghĩa một người cầm quyền thận trọng và hòa thuận. Các tiên tổ của chúa (hình rồng năm móng bay trên cao) là biểu tượng của tôn kính, sự bất tử (chữ Thọ) và là nguồn ban tặng hạnh phúc (chữ Khánh) cho con cháu. Để nhấn mạnh ý nghĩa này, con rồng được thể hiện với hình tượng đang nắm một cụm mây để ban tặng cho con lân. Mây biểu tượng của điềm lành và phong phú. Vả lại hình mây ở đây vẽ theo kiểu “như ý”, là một lối chơi chữ đồng âm hàm nghĩa “khánh thọ như ý”.
    Trang trí này cũng xuất hiện trên chiếc đĩa thuộc sưu tập Hồ Đình7 (ảnh 3) và trên một chiếc đĩa khác thuộc sưu tập Vương Hồng Sển8 (ảnh 4) trước đây với vài biến đổi. Theo motif rồng đời chúa Trịnh Sâm, các sợi râu của con rồng và con lân trên hai chiếc đĩa này tạo thành những dấu ngoặc đăng đối nhau một cách hoàn hảo và được cách hình tròn một quãng bằng nhau. Bố cục khá đơn giản, chỉ có một ít đám mây và sóng nước. Con rồng trên cả hai đĩa này đều nắm một cụm mây.


    3.JPG 4.JPG
    ảnh: 3 ảnh: 4


    Riêng trên chiếc đĩa khác9 (ảnh 5), cũng thuộc sưu tập Hồ Đình thì con rồng cầm hạt châu. Theo truyền thuyết Trung Hoa, hạt châu ngụ ý sấm sét và con rồng khi nghe tiếng sấm thì bay lên trời để gặp mây và gây ra mưa. So với hai chiếc đĩa nêu trên thì hình trang trí như trên đĩa này là rất hiếm. Chúa Trịnh không đặt làm nhiều đĩa vẽ như vậy vì loại đĩa này dành cho Hữu cung miếu hoặc Đông miếu, là nơi thờ Trịnh Vĩnh và Trịnh Bính, trước khi di dời bàn thờ các vị này sang Thái miếu vào năm 1782. Hai vị này không được phong tước vương nên không thể ban ân huệ (mây/mưa) mà chỉ báo hiệu điềm mây mưa sẽ đến qua hình tượng hạt châu.
    Trên một chiếc đĩa có kích thức lớn thuộc sưu tập của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh10 chỉ vẽ duy nhất một con rồng trải mình trên những đám mây ở phía sau hai chữ Khánh - Thọ (ảnh 6) với nét vẽ rất tỉ mỉ.


    5.JPG 6.JPG
    ảnh: 5 ảnh: 6



    P2: http://thegioidoco.net/threads/do-su-te-tu-hieu-de-khanh-xuan-thi-ta-va-noi-phu-thi-huu-p2.17372/
     

    Chỉnh sửa cuối: 18/3/15
  2. SĐT :
    0977397686
    Địa Chỉ :
    4A -Đông Sơn- Tp Tam Địêp-Ninh Bình
    Gửi tin nhắn
    Admin chưa đổi con dấu ah
     
    luat.ngo thích bài này.
  3. nhìn lại con dấu này thấy không độc không lạ nơi.hihi
     
    luat.ngo and cayduanha like this.
  4. luat.ngo

    luat.ngo (19 )

    BAN QUẢN LÝ (6)

    Chất lượng tạo thương hiệu - Uy tín giữ thành công - Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    SĐT :
    0945621800
    Zalo :
    0932355523
    Địa Chỉ :
    Tân Hòa Đông, P.Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP.HCM
    Gửi tin nhắn
    Bài này úp trước khi con dấu được đổi