Thế Giới Đồ Cổ | Diễn Đàn Mua Bán - Đăng Tin - Rao Vặt - Miễn Phí



Đồ gỗ Đức Thiện



Quạt Trần Kim Thuận Phong

Đồng Hồ Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi THẾ GIỚI ĐỒ CỔ, 12/1/17, [ Mã Tin: 67651 ] [226 lượt xem - 0 bình luận]

  1. THẾ GIỚI ĐỒ CỔ

    THẾ GIỚI ĐỒ CỔ (6 )

    BÔ LÃO (3)

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây !!!!!!

    SĐT :
    0922121289
    Địa Chỉ :
    BÌNH TÂN - HCM
    Gửi tin nhắn
    Omega SA là một hãng sản xuất đồng hồ Thụy Sĩ cao cấp đặt trụ Sở tại Biel/Bienne, Thụy Sĩ. Vào năm 1917, Không quân Hoàng gia Anh đã chọn Omega làm chiếc đồng hồ chính thức cho đơn vị chiến đấu của họ, và sau đó là quân đội Mỹ vào năm 1918.

    Đồng hồ Omega là lựa chọn của NASA và là chiếc đồng hồ đầu tiên xuất hiện trên mặt trăng vào năm 1969. Omega cũng là thiết bị tính giờ chính thức cho các kỳ Olympic kể từ năm 1932. James Bond đã đeo nó trên màn ảnh kể từ năm 1995, và những người nổi tiếng khác từng đeo nó, trong quá khứ cũng như hiện tại, bao gồm John F. Kennedy, Hoàng tử William và Buzz Aldrin. Omega thuộc sở hữu của tập đoàn Swatch. Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega (1).jpg


    Lịch sử

    Sáng lập

    Nguyên mẫu của Omega, công ty La Generale Watch được lập ra tại La Chaux-de-Fonds, Thụy Sĩ bởi Louis Brandt, người đã tạo ra những chiếc đồng hồ bỏ túi chính xác lên dây bằng chìa từ những linh kiện được cung cấp bởi các nghệ nhân địa phương. Ông bán những chiếc đồng hồ của mình từ Anh tới Scandinavia qua đường Anh quốc, thị trường chính của mình. Đến năm 1894, hai người con của ông, Louis-Paul và Cesar đã tạo ra một cuộc cách mạng khi phát triển một cơ sở sản xuất nội bộ, cho phép các linh kiện có thể hoán đổi lẫn nhau. Những chiếc đồng hồ được phát triển với công nghệ này được bán ra dưới tên thương hiệu Omega thuộc sở hữu của công ty La Generale Watch. Đến năm 1903, thành công của Omega đã dẫn đến việc công ty La Generale chuyển sang thâu tóm nó như một phần sở hữu của mình, và thương hiệu Omega Watch chính thức được thành lập vào năm 1903.

    Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega (3).jpg

    Sát nhập

    Louis Paul và Cesar Brandt đều mất vào năm 1903, để lại một trong những thương hiệu đồng hồ lớn nhất Thụy Sĩ – với 240.000 chiếc đồng hồ sản xuất ra mỗi năm và 800 nhân công – vào tay 4 con người trẻ tuổi, trong đó người già nhất, Paul-Emile Brandt vẫn chưa đầy 24.

    Brandt là một kiến trúc sư vĩ đại và là người xây dựng nên Omega. Ảnh hưởng của ông có thể nhận thấy rõ trong suốt nửa thế kỷ tiếp sau. Những khó khăn về kinh tế do Thế chiến thứ nhất gây ra dẫn đến những hoạt động tích cực của ông từ năm 1925 trở về sau, và sau đó là sự sát nhập của hãng với tổ chức SSIH, Geneva.

    Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega (4).jpg

    Từ năm 1955, dưới sự lãnh đạo của Brandt và Joseph Reiser, tổ chức SSIH tiếp tục tăng trưởng và nhân rộng, chiếm thêm và mở ra khoảng 50 công ty nữa, bao gồm cả Lanco và Lemania, những nhà sản xuất bộ phận chuyển động chronograph Omega nổi tiếng nhất. Đến năm 1970, SSIH đã trở thành nhà sản xuất số một Thụy Sĩ và thứ ba trên thế giới về đồng hồ thành phẩm. Đến thời điểm này, thương hiệu Omega đã lấn át hoàn toàn Rolex, đối thủ chính của nó trên phân khúc đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ, dù Rolex được bán ra với giá cao hơn. Khoảng thời gian này cũng là thời điểm cuộc đấu giữa Rolex và Omega được xem như trận chiến cho ngôi vị “Vua đồng hồ Thụy Sĩ”. Những chiếc đồng hồ Omega có xu hướng cách mạng hơn và tập trung vào chuyên môn hơn, trong khi đồng hồ Rolex có tính “tiến hóa” hơn và nổi tiếng hơn về các sản phẩm và các thương hiệu cơ.

    Omega và Rolex thống lĩnh trong thời kỳ tiền-quartz, nhưng điều này đã thay đổi vào thập kỷ 1970s. Đó là khi các nhà sản xuất đồng hồ Nhật Bản như Seiko và Citizen vươn lên thống trị nhờ vào việc đi tiên phong trong lĩnh vực bộ phận chuyển động quartz. Để đáp trả, Rolex tiếp tục tập trung vào những chiếc đồng hồ Chronometer cơ, mảng sở trường của họ (dù hãng cũng đã có vài thử nghiệm trên đồng hồ quartz), trong khi Omega cố gắng cạnh tranh với các hãng đồng hồ Nhật Bản trên thị trường đồng hồ quartz bằng việc sử dụng những bộ phận chuyển động quartz từ Thụy Sĩ.

    Bị suy yếu bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ và sự thụt lùi kinh tế trong giai đoạn từ 1975 tới 1980, SSIH bị các ngân hàng mang ra bảo lãnh vào năm 1981. Trong giai đoạn này, Seiko tỏ ra hứng thú với việc mua lại Omega, nhưng chưa có chuyện gì xảy ra sau cuộc đàm phán.

    Một thế lực chế tác đồng hồ Thụy Sĩ khác, Allgemeine Schweizerische Uhrenindustrie AG (ASUAG – nhà cung cấp các bộ phận chuyển động đồng hồ Thụy Sĩ cũng như các linh kiện thuộc nhiều chủng loại), cũng lâm vào tình cảnh khó khăn. Hãng là nhà cung cấp bộ phận chuyển động trống chính, và là nhà sở hữu nhiều thương hiệu đồng hồ Thụy Sĩ bao gồm Longines, Rado, Certina và Mido, thông qua công ty cổ đông con General Watch Co (GWC).

    Sau cuộc tái thiết kinh tế mạnh mẽ, bộ phận R&D của ASUAG và SSIH hợp nhất các dự án sản xuất tại nhà máy liên hợp ETA ở Granges. Hai công ty này hoàn tất việc hợp nhất để lập ra công ty cổ phần ASUAG-SSIH vào năm 1983.

    Hai năm sau, công ty cổ phần này chuyển sở hữu sang cho một nhóm các nhà đầu tư tư nhân dẫn đầu bởi Nicolas Hayek. Được đổi tên lại thành SMH, Société de Microélectronique et d'Horlogerie, tổ chức này trong suốt thập kỷ tiếp theo đã phát triển lên thành một trong những nhà sản xuất đồng hồ hàng đầu thế giới. Đến năm 1998, nó trở thành tập đoàn Swatch, tập đoàn giờ đây sản xuất ra đồng hồ Omega cũng như các thương hiệu đồng hồ khác như Blancpain, Swatch và Breguet.

    Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega (5).jpg

    Thương hiệu Omega đã trải qua cuộc hồi sinh với cách quảng bá tập trung vào các chiến lược sắp đặt sản phẩm, ví dụ như trong các bộ phim James Bond 007, nhân vật này trước đây đeo một chiếc Rolex Submariner nhưng sau đó chuyển qua chiếc Omega Seamaster trong bộ phim Golden Eye (1995), để rồi tiếp tục với thương hiệu này trong những bộ phim sau đó. Omega cũng tiếp thu rất nhiều yếu tố trong các mẫu sản phẩm của Rolex (như giá cao hơn, kiểm soát chặt hơn giá bán lẻ, tăng cường quảng cáo…), điều đó giúp tạo ra thành công trong việc tăng thị phần của Omega trên thị trường và hãng được xem như là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Rolex.

    Các thử nghiệm quan trắc học

    Các thử nghiệm quan trắc học tập trung vào lĩnh vực Chronometry và khả năng tạo ra những chiếc đồng hồ Chronometer đo thời gian chính xác. Chỉ có Patek Phillipe và Omega tham gia thường niên vào những thử nghiệm này. Màn trình diễn của Omega tại những cuộc đấu này đã giúp hãng nổi danh về sự chính xác và tính đột phá.

    Trong hơn 1 thập kỷ (1958 – 1969), Omega là nhà sản xuất đồng hồ COSC chronometer lớn nhất. Vào năm 1931, Omega đã phát triển câu slogan “Omega – chính xác đến suốt đời”, dựa vào màn trình diễn lịch sử trong các thử nghiệm quan trắc học. Sự dũng cảm của Omega trong thiết kế và điều chỉnh các bộ phận chuyển động đồng hồ đã dẫn tới sự ra đời của một tập hợp các sáng tạo Chronometric đầy đột phá.

    Những mốc lịch sử quan trọng của Omega:

    1894: Tạo ra linh kiện 19 caliber lừng danh mang tên Omega. Vào năm 1903, hãng đã đổi tên mình thành tên chiếc linh kiện này từ “Louis Brandt et Freres”. Đây cũng là năm Omega lần đầu tham dự vào các thử nghiệm quan trắc học tại Neuenburg. Albert Willemin là người điều chỉnh bộ phận này.

    1911: Albert Willemin rời Omega và được thay thế bởi Werner-A. Dubois.

    1918: Werner- A.Dubois rời Omega để gia nhập Paul Ditisheim và được thay thế bởi Carl Billeter.

    1919: Giành giải nhất trong cuộc thử nghiệm quan trắc học tại Neuenburg với chiếc 21 caliber. Chiếc caliber này có một vài điều chỉnh nhỏ và trở thành linh kiện Cal. 47.7 cực kỳ nổi tiếng sau đó.

    1920: Gottlob Ith thay thế Carl Billeter.

    Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega (6).jpg

    1922: Omega lần đầu tham dự vào thử nghiệm quan trắc học tại Kew-Teddington (giành giải ba).

    1925: Giành giải nhất trong các thử nghiệm quan trắc học tại Kew-Teddington với linh kiện Cal 47.7 (đạt điểm 95.9/100 đồng hạng với Ulysse Nardin); Gottlob Ith đóng vai trò điều chỉnh bộ phận này.

    1929: Alfred Jaccard gia nhập Omega.

    1930: Giành vị trí số một tại cuộc thử nghiệm quan trắc học tại Kew-Teddington (96.3/100 điểm đồng học với Movado), Alfred Jaccard điều chỉnh bộ phận này.

    1933: Linh kiện Cal. 47.7 điều chỉnh bởi Alfred Jaccard đạt kỷ lục chính xác tại cuộc thử nghiệm quan trắc học tại Kew-Teddington với số điểm 97.4/100..

    1936: Một linh kiện Cal. 47.7 khác điều chỉnh bởi Alfred Jaccard đạt kỷ lục chính xác với số điểm 97.8/100. Kỷ lục này đến tận năm 1965 mới bị phá vỡ.

    1937: Đứng đầu cuộc thi tại Kew-Teddington với 97.3 điểm.

    1938: Đứng đầu cuộc thi tại Kew-Teddington với 97.7 điểm.

    1939: Tạo ra chiếc Cal. 30. (Chiếc caliber 30mm đầu tiên).

    1940: Đứng đầu cuộc thi tại Kew-Teddington với bộ phận chuyển động điều chỉnh bởi Alfred Jaccard.

    1943: Cho ra mắt chiếc caliber 30mm 30T2 (bộ phận chuyển động Omega đầu tiên là bằng vàng đỏ miếng).

    1945: Đứng đầu cuộc thi quan trắc học tại Geneva với linh kiện Caliber 30mm, bộ phận được điều chỉnh bởi Alfred Jaccard.

    1947: Tạo ra bộ phận chuyển động đồng hồ đeo tay Omega Tourbillon đầu tiên (Cal. 301). Được phát triển riêng cho các cuộc thử nghiệm quan trắc học (chỉ 12 chiếc được làm ra).

    1948: Đứng đầu cuộc thi tại Neuenburg với chiếc Caliber 30. Đó cũng là lần đầu tiên một thương hiệu không phải Thụy Sĩ được phép tham gia cuộc thi này.

    1950: Đứng đầu cuộc thử nghiệm Geneva với chiếc Tourbillon Cal. 301, điều chỉnh bởi Alfred Jaccard. Joseph Ory gia nhập bộ phận tính giờ chính xác sau khi đóng vai trò là người đào tạo cho các nhân viên bấm giờ nữ.

    1951/1952: Đứng đầu cuộc thử nghiệm quan trắc học tại Geneva.

    1953: Alfred Jaccard qua đời.

    1954: Gottlob Ith xác lập kỷ lục mới tại Geneva.

    1955: Gottlob Ith xác lập thêm 2 kỷ lục mới tại Neuenburg.

    1956: Gottlob qua đời ở tuổi 66, Joseph Ory thế chân ông làm trưởng bộ phận. Giành 2 giải nhất tại các cuộc thử nghiệm quan trắc học tại Neuenberg.

    1958: Các bộ phận chuyển động điều chỉnh bởi Joseph Ory lập kỷ lục mới tại Geneva. Linh kiện Cal. 30GD ra đời – một chiếc Caliber 30mm với lò xo chính tốt hơn và tần số cao hơn (25.200 thay vì 18.000 vph). Tần số bất thường này hiện được tái sử dụng cho các bộ phận chuyển động đồng trục hiện đại nhất.

    1959: Các bộ phận chuyển động điều chỉnh bởi Joseph Ory xác lập hai kỷ lục tại Neuenburg và một kỷ lục tại Geneva.

    1960: Thêm một kỷ lục nữa tại Geneva và một kỷ lục tại Neuenburg. Các bộ phận chuyển động được điều chỉnh bởi Joseph Ory.

    1961: Joseph Ory xác lập hai kỷ lục mới tại Geneva. Bốn vị trí dẫn đầu cho hạng mục “tác phẩm đơn” đều được Omega độc chiếm.

    1962: Omega giành vị trí thứ 2,3 và 4. Họ cũng quyết định tạo ra một chiếc Caliber mới.

    1963: Đứng đầu tại Geneva và Neuenburg với các bộ phận chuyển động điều chỉnh bởi Joseph Ory và Andre Brielmann.

    1964: Joseph Ory xác lập kỷ lục mới tại Neuchantel.

    1965: Omega độc chiếm các vị trí từ thứ 2 đến thứu 9 (vị trí dẫn đầu thuộc về Zenith). Pierre Chopard được giao nhiệm vụ tạo ra một chiếc Caliber mới cho các cuộc thử nghiệm quan trắc học. Cal. E11 có hình dạng khá bất thường để chứa nòng lớn và lò xo chính của nó. Nó chưa bao giờ có cơ hội tham dự cuộc thi, bởi sự xuất hiện của các bộ phận chuyển động quartz vào năm 1967.

    1966: Omega đạt thêm 3 kỷ lục mới, hai tại Neuenburg, một tại Geneva.

    1967: Bộ phận chuyển động Quartz Beta 1 (sau đó là Beta 21) được đưa vào cùng hạng mục với các bộ phận chuyển động cơ. Cuối năm đó, Omega tham gia vào cạnh tranh trong thị trường quartz, bởi các bộ phận cơ với danh nghĩa là các “công nghệ lỗi thời” không thể sánh với các bộ phận quartz. Chiếc đồng hồ thành phẩm được cho ra mắt vào năm 1970 dưới cái tên Omega Electroquartz, với độ chính xác lên đến 5 giây mỗi tháng.

    1968: Bộ phận âm thoa điều chỉnh bởi Andre Brielmann xác lập một kỷ lục mới.

    1969: Hai kỷ lục mới được xác lập bởi bộ phận này.

    1970: Một kỷ lục mới được xác lập bởi bộ phận này.

    1971: Hai kỷ lục mới được xác lập bởi bộ phận này.

    1972: Andre Brielmann nghỉ hưu.

    1974: Chiếc đồng hồ Omega Marine Chronometer được cấp chứng nhận là chiếc đồng hồ đeo tay Marine Chronometer đầu tiên trên thế giới, với độ chính xác lên tới 12 giây mỗi năm.

    Các bộ máy chuyển động và bộ phận thoát đồng trục

    Vào năm 1974, Omega tạo ra thiết bị calibre cho đồng hồ đeo tay tourbillon đầu tiên trên thế giới – chiếc 30I. Có 12 chiếc đã được tạo ra, hướng đến việc độc chiếm các cuộc thử nghiệm quan trắc học tại Geneva, Neuchatel và Kew-Teddington. Chúng được biết đến với cái tên Omega Observatory Tourbillon. Không giống như các bộ phận chuyển động Tourbillon thông thường có buồng quay một lần/phút, buồng của chiếc 30I’s quay một lần mỗi bảy giây và mỗi nửa phút. Vào năm 1949, một trong những bộ phận này đã mang lại màn trình diễn xuất sắc nhất từng được ghi nhận bởi một chiếc đồng hồ đeo tay, tính đến thời điểm đó. Một năm sau, Omega phá vỡ kỷ lục của chính họ, tại cuộc thử nghiệm quan trắc học ở Geneva vào năm 1950.

    Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega (7).jpg

    Năm 1999, với sự thành công trong việc tự phát triển bộ phận chuyển động Calibre 2500, Omega đã làm nên lịch sử khi cho ra mắt chiếc đồng hồ được sản xuất hàng loạt với bộ thoát đồng trục – tính năng được phát minh bởi nghệ nhân chế tác đồng hồ người Anh George Daniels. Nhiều người cho rằng đây là một bước tiến vĩ đại của ngành chế tác đồng hồ kể từ sau sự ra đời của bộ thoát tay đòn, chức năng thoát đồng trục gần như không cần đến bôi trơn, do đó triệt tiêu các thiếu sót của bộ thoát tay đòn truyền thống. Bằng cách sử dụng các ma sát quay thay vì ma sát trượt ở các bề mặt xung, bộ thoát đồng trục đã làm giảm đáng kể ma sát, do đó, về mặt lý thuyết sẽ dẫn tới việc có độ bền cao hơn và tính chính xác cao hơn trong thời gian dài.

    Vào ngày 24/1/2007, Omega hé lộ về hai bộ phận mới là Calibres 8500 và 8501, hai bộ phận chuyển động đồng trục (25.200 bph) được làm ra độc quyền khởi đầu bởi Omega.

    Vào ngày 17/1/2013, Omega tuyên bố tạo ra bộ phận chuyển động đầu tiên trên thế giới có khả năng kháng lại từ trường có cường độ mạnh hơn 1.5 tesla (15.000 gauss), vượt xa ngưỡng kháng từ trường mà bất cứ bộ phận chuyển động nào đạt được trước đây. Hầu hết các đồng hồ kháng từ đều tối ưu hóa buồng mềm sắt-faraday có tác dụng phân phối điện từ theo cách mà nó hủy các hiệu ứng trong các bộ phận chuyển động bên trong. Thay vào đó, Omega dựng nên một bộ phận chuyển động từ các vật liệu không chứa sắt, do đó triệt tiêu nhu cầu sử dụng các buồng như trên và cung cấp một sức kháng từ trường mạnh hơn nhiều.

    Đồng hồ Omega và thám hiểm vũ trụ

    Việc chọn chiếc “Omega Speedmaster Professional Chronograph” cho các phi hành gia Mỹ vốn là cuộc cạnh tranh giữa Omega và Bulova.

    Lịch Sử Hãng Đồng Hồ Omega (8).jpg Tất cả những nhiệm vụ có người lái sau đó cũng đều sử dụng chiếc đồng hồ đeo tay này. NASA bắt đầu chọn chiếc Chronograph này từ đầu thập niên 1960. Đồng hồ đeo tay tự động Chronograph vẫn chưa có mặt trên thị trường cho đến năm 1969. Ngay cả vậy, tất cả những chiếc đồng hồ bảng và đồng hồ tính giờ trên phi thuyền không gian trong các nhiệm vụ như trên đều là đồng hồ Bulova Accutrons với các bộ phận chuyển động âm thoa bởi tại thời điểm đó, NASA vẫn chưa biết được một bộ phận chuyển động cơ sẽ làm việc ra sao trong môi trường không trọng lực.

    Chiếc Omega Speedmaster Professional Chronograph là chiếc đồng hồ đầu tiên xuất hiện trên mặt trăng, và Buzz Aldrin là người đeo no. Mặc dù chỉ huy tàu Apollo 11, Neil Amstrong là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng, nhưng ông lại để chiếc 105.012 Speedmaster trong Lunar Module làm chiếc dự phòng, bởi thiết bị tính giờ điện tử của Lunar Module gặp trục trặc. Buzz Aldrin được chọn để đeo chiếc đồng hồ của ông và do đó, chiếc Speedmaster trở thành chiếc đồng hồ đầu tiên trên trên mặt trăng. Chiếc đồng hồ của Amstrong giờ được trưng bày tại bảo tàng quốc gia Air and Space tại Washington, DC. Chiếc của Aldrin đã bị thất lạc. Ông nhắc đến điều này trong cuốn sách của mình, Return to Earth, rằng khi hiến tặng một vài thứ vật phẩm tới viện Smithsonian, chiếc Omega là một trong vài thứ bị đánh cắp khỏi các sở hữu cá nhân của ông.

    Năm 2007, để kỷ niệm 50 năm ngày ra đời chiếc Omega Speedmaster Professional Chronograph, hãng Omega đã hé lộ phiên bản tưởng niệm mang tên Speedmaster Professional Chronograph Moonwatch. Chiếc đồng hồ này có những tính năng riêng biệt của chiếc đồng hồ đeo tay Omega tự lên dây đầu tiên ra mắt vào năm 1957. Nó được bán ra với số lượng phiên bản là 5957.

    Nguồn : miluxe
     

    Các file đính kèm:


Google+
Xưa Và Nay
Đang tải...