Thảo luận Nghệ thuật Tranh phong cảnh và tự họa triều đại nhà Thanh 1644-1912

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi luat.ngo, 20/10/15, [ Mã Tin: 27422 ] [415 lượt xem - 0 bình luận]

  1. luat.ngo

    luat.ngo (19 )

    BAN QUẢN LÝ (6)

    Chất lượng tạo thương hiệu - Uy tín giữ thành công - Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    SĐT :
    0945621800
    Zalo :
    0932355523
    Địa Chỉ :
    Tân Hòa Đông, P.Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP.HCM
    Gửi tin nhắn
    Triều đại người nước ngoài quan trọngthứ hai làm bá chủ toàn lục địa Trung Hoa lànhà Thanh (1644 - 1912). Hầu như có sựkhác biệt lớn lao giữa sự cai trị của nhàThanh và Mông Cổ. Mặc dù có những biếnđộng chính trị và quân sự, nhưng nhữngkhuynh hướng thế tục rõ ràng vào giữa đờiMinh vẫn tiếp tục hoặc thậm chí tăng tốcdưới thời nhà Thanh cai trị - đô thị hóa giatăng, thương mại phát triển, sự truyền bágiáo dục rộng lớn hơn bao giờ hết.

    Theo như cái tên hàm ý của họ, người Mãn đến từ Mãn Châu. Họ hoàn toàn không bị lệ thuộc Trung Hoa, có đủ sức để tiếp cận, học hỏi ý thức hệ và những cơ cấu của người Trung Hoa. Sự suy thoái kinh tế càng trở nên trầm trọng, do bởi sự bất lực của chính quyền, tham nhũng, và chủ nghĩa bè phái đã dẫn đến sự nổi dậy để làm sụp đổ nhà Minh. Người Mãn Châu thể hiện bản thân mình không phải là những người chinh phục mà là những người giải phóng người Trung Hoa thoát khỏi cảnh hỗn loạn và áp bức. Họ đã chiếm được Trung Hoa với tư cách một đối thủ tương đối có dân số nhỏ bé hơn. Nhà Thanh cũng đạt được thành công như vậy khi tranh thủ sự ủng hộ của giới trí thức Trung Hoa, cho nên mối ác cảm của những người theo đạo Khổng chống lại sự hợp tác với chế độ mới gần như bị xua tan. Người Mãn Châu chiến thắng là người ít chịu gian khổ nhất trong sự chuyển tiếp triều đại Trung Hoa. Một thế kỷ rưỡi đầu tiên dưới sự cai trị của người Mãn Châu là thời đại hoàng kim cuối cùng của đế chế Trung Hoa.

    Cùng một lúc, chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng chủ nghĩa trung thành với nhà Minh vẫn còn duy trì mạnh mẽ trong giới trí thức Trung Hoa với ít nhất là một thế hệ sau khi nhà Minh sụp đổ. Đạo đức Tân Khổng giáo không cho phép bầy tôi thờ hai chúa và tán dương những ai tận trung với chủ của mình cho đến hơi thở cuối cùng. Nhưng cũng có thể chấp nhận điều này, là để chứng tỏ lòng thủy chung như thế nhưng ít thê thảm hơn, bằng cách mang một cái tên mới và một lối sống hoàn toàn khác biệt - nói một cách khác, bằng cách tứ bỏ vai trò bình thường trong xã hội của mình - như là những họa sĩ đã làm mà chúng ta sắp xem xét đến.

    Ngay cả trước khi hướng cuộc chinh phục đến Trung Hoa, những nhà lãnh đạo người Mãn đã được sự hỗ trợ của các cố vấn Trung Hoa, đã bắt chước những cơ cấu hành chính và kỹ thuật Trung Hoa. Là những người chinh phục, họ bảo tồn tập quán xã hội của đời Minh để lại (trong lúc đó áp đặt bản thân mình chấp nhận chúng đến mức tột đỉnh), và nỗ lực đạt được sự hiểu biết nền văn hóa Trung Hoa, bao gồm luôn khái niệm Thiên Tử như là một khuôn mẫu điển hình và là người đỡ đầu về học thuật và nghệ thuật. Đặc biệt quan tâm đến mỹ thuật, những người Mãn trị vì đã trở thành người Trung Hoa còn hơn cả người Trung Hoa, tập trung vào Hoàng Thành Bắc Kinh, bộ sưu tập Cung Đình - ngày nay là Bảo Tàng Cung Đình Quốc gia được chia đôi: một ở Bắc Kinh và một ở Đài Bắc.

    Hội họa

    Việc phân chia lịch sử nghệ thuật Trung Hoa thành nhiều thời kỳ của các triều đại đôi lúc có vẻ lợp lý, nhưng giữa các triều đại nhà Minh và nhà Thanh sự liên tục về những nền nghệ thuật như thế này mà phần thứ nhất thuộc triều Thanh, đặc biệt thế kỷ 17, có thể được xem là một sự nối tiếp, ở một số tính cách nào đó là một thành quả cuối cùng, thuộc những khuynh hướng đã thể hiện trong hội họa và những phong cách mỹ thuật trang trí của thời kỳ sau đời Minh. Nó hoàn toàn không phải là một thời kỳ suy giảm khiếu thẩm mỹ và những tiêu chuẩn, do bởi sự tập trung quá mức ở những đồ gốm sứ xuất khẩu mang tính Trung Hoa có thể dẫn đến hậu quả người ta suy nghĩ như thế.

    Hội họa đời Thanh bao gồm hai phong cách cơ bản: phong cách bảo thủ dựa trên tranh họa của giới nho sĩ cuối đời Minh từ nhà cải cách quan trọng, Dong Qichang; và một phong trào sáng tạo, độc đáo hoàn toàn mang tính chủ nghĩa cá nhân hơn bất cứ trường phái nào trước đó. Vào lúc khởi đầu triều đại, những phong cách hội họa đi song song với sự liên kết chính trị. Những người ủng hộ nhà Thanh có khuynh hướng tiến đến hội họa chính thống, những người trung thành với nhà Minh hướng đến chủ nghĩa cá nhân. Một sự phân chia như thế trở thành những dòng chảy mang tính bảo thủ và độc đáo không nhận những lỗ thủng trí tuệ khác của hội họa Trung Hoa, chúng chính xác là những giai đoạn suy tàn của những phong cách đời Nguyên, đời Tống và đầu thời kỳ nhà Minh. Chúng ta sẽ bỏ qua những họa sĩ giỏi nhưng thường không có nhiều cảm hứng này, dù sao ở tính cách riêng của mình họ cũng đem lại một sự đóng góp nào đó.

    Phong cách bảo thủ của đời Thanh, dựa trên truyền thống của Dong Qichang và trường phái của ông ta; được tiêu biểu ở những tác phẩm của 4 người họ Wang (Vương): Wang Shimin (Vương Thế Mẫn) (1592 - 1680), Wang Jian (Vương Kiến) (1598 - 1677), Wang Hui (Vương Huê) (1632 - 1717), và Wang Yuanqi (Vương Nguyên Tề) (1642 - 1715). Họ được liệt kê theo năm sinh. Wang Shimin lớn tuổi nhất và cũng theo đúng truyền thống nhất (h.657). Phong cách của ông phần lớn kết hợp với những kiểu cách cải biến của đời Nguyên thuộc thời kỳ Bắc Tống. Với khoảng không gian đồ sộ, phóng túng và nét bút là sự đóng góp độc đáo của vị thầy của ông, Dong Qichang, 50 hoặc 60 năm trước đó. Những bố cục của ông có khuynh hướng truyền thống nhưng không gây cảm hứng lắm. Chúng thường mang vẻ cứng cáp, dày đặc và thường hết sức phức tạp, với sự lặp lại cây cỏ, đá, núi trong một bố cục tương tự với những tiết tấu. Việc sử dụng nét bút của Wang Shimin, và khuôn mẫu trang trí của ông trên toàn bộ bề mặt bức tranh, là chính xác và không thay đổi; có lẽ điều này gợi nhớ đến một bậc thầy đời Nguyên, Huang Gongwang. Có thể Wang Shimin rất quan trọng đối với những bậc tiền bối và hậu bối hơn là với chính bản thân ông, vừa là học trò của Dong Qichang vừa là người thầy tinh thần và thực tiễn của ba người họ Wang khác.

    [​IMG]

    657. Làng vùng núi vào Hạ. Của Wang Shimin (1592 - 1680). Niên đại tính đến năm 1659. Tranh cuộn treo tường mực trên giấy cao 125,7 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bộ sưu tập của Ông bà A. Dean Perry, Cleveland.

    ít nhất trong những bố cục của mình, Wang Jian (Vương Kiến) là một họa sĩ đầy thú vị và độc đáo hơn. Những tiết tấu nhịp nhàng chi phối toàn bộ những tranh phong cảnh của ông ta thậm chí hơn của Wang Shimin ở sự lặp lại và tương đối phức tạp nhưng cũng trang nhã và lịch sự. Khi được người ta so sánh với những tác phẩm của Wang Shimin, thì tác phẩm của Wang Jian

    [​IMG]

    658. Mười ngàn dặm sông Dương Tử. Của Wang Hui (1632 - 1717). Một phần tranh cuộn cầm tay; mực và màu nhạt trên giấy; dài 16,2 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bộ sưu tập H.C.Weng. New Hampshire.

    mang vẻ trữ tình hơn với một điều gì đó đáng yêu, nét đặc trưng của những tranh họa phong cảnh trùng điệp của những trường phái ban đầu của Nhật Bản. Trong tác phẩm của người họa sĩ này, người ta ít khi tìm thấy một bố cục đồ sộ của một phạm vi to lớn hoặc nét bút mạnh mẽ, mà thay vào đó là sự sử dụng một nét bút trang nhã và không thay đổi ở những bố cục bị chi phối bởi những tiết tấu nhẹ nhàng và đôi khi có màu sắc trang trí tinh xảo.

    Wang Hui (Vương Huê), người thuộc thế kỷ nối tiếp, có lẽ là người nổi tiếng nhất trong nhóm. Hồi sinh tiền, ông là người họa sĩ tài hoa nhất ở Trung Hoa, một bậc thầy sáng tác nhiều, những tác phẩm của ông còn lại với số lượng đáng kể. Phong cách của Wang Hui, cơ bản dựa trên nét bút thiên phú, và có nhiều khác lạ so với hai người họ Wang lớn tuổi hơn. Từ lúc ban đầu, giống như thiên tài Durer và Leonardo, ông ta dường như có thể vẽ bất cứ điều gì ông muốn với ngọn bút lông. Những tranh cuộn dài của ông (dài khoảng 16 m) giống như bức tranh trong bộ sưu tập của họ Weng, cho thấy nét bút thật phi thường không thay đồi của ông, được người ta nhận thấy trong tranh họa Trung Hoa (h.658). Vào năm 1691, Hoàng đế Kangxi (Khang Hy) giao cho Wang Hui nhiệm vụ vẽ về Chuyến Du hành Miền nam của triều đình, một chuyến đi dài 71 ngày đi qua tỉnh Giang Tô (Jiangsu) và Chiết Giang (Zhejiang) ngày nay. Tất cả có đến 12 tranh cuộn cầm tay, mỗi bức tranh dài khoảng hơn 7m, là một sự ghi chép bằng hình ảnh sâu sắc và phong phú nhất trong thời kỳ của chúng. Không có một họa sĩ đời Tống hoặc tác phẩm nào của những thời kỳ sau này xuất sắc hơn. Nếu thỉnh thoảng chúng có vẻ tẻ nhạt và ít truyền cảm hứng hơn những tác phẩm trước đó, điều này chỉ do bởi cuộc cách mạng của Dong Qicheng, hơn một thế kỷ, trở thành nền hội họa chính thống của Wang Hui. Những môn đệ của nhà cải cách táo bạo này hơi mang một ít tính hàn lâm. Những album tranh cuộn cầm tay, hoặc tranh cuộn treo tường được thực hiện bằng những chủ đề khác nhau của những người đi trước chắc chắn chi phối tác phẩm mô tả bằng hình ảnh của một họa sĩ bảo thủ. Có lẽ lý do chính về sự lơ là của người phương Tây cho tới gần đây, đối với những họa sĩ chính thống đời Thanh là sự thiếu đi tính sáng tạo của họ trong bố cục. Nhưng dưới con mắt của người Trung Hoa, nó là thứ yếu.

    Người cuối cùng và trẻ tuổi nhất trong những người họ Wang, và chắc chắn là người sáng tạo nhất, là Wang Yuanqi, ông cũng gần gũi với những họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân hơn những họa sĩ họ Wang khác.

    [​IMG]

    659. Phong cảnh theo phong cách màu của Ni Zan. Của Wang Yuanqi (1642 - 1715). Niên đại tính đến năm 1707. Tranh cuộn treo tường; mực và màu nhạt trên giấy; cao 80,3 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Các bức tranh của ông chứng tỏ sự hiểu biết về cốt lõi sự đổi mới của Dong Qichang không phải ở những ấn tượng hình ảnh đáng yêu thường được Wang Jian và Wang Hui tạo nên mà là ở sự sắp xếp đầy phóng túng những yếu tố thiên nhiên trong ngôn ngữ của nét bút và một cấu trúc hầu như mang tính hình ảnh trừu tượng. Do kết quả này, khi Wang Yuanqi vẽ một bức tranh theo phong cách của Ni Zan (h.659), thì nó ở trong sự tôn kính cái tinh thần của Ni Zan, đối với sự lạnh lùng và điềm nhiên của bậc thầy đời Nguyên. Phương pháp thực sự mà bức tranh này đạt được nhiều hơn cả sự chịu ảnh hưởng sáng tạo của Dong Qichang. Sự tương phản to lớn ở phạm vi giữa cây cỏ và nhà cửa, sự biến đổi những thân cây và tán lá nặng nề của chúng như là một sự cân bằng đối với bối cảnh núi và đảo nằm xa xa - những phần này được kết hợp tạo nên một bức tranh chứng tỏ chỉ là của Wang Yuanqi, trong khi gợi nhớ đến Ni Zan. Ở trong ý nghĩa này, ông ta là một người theo chủ nghĩa cá nhân: trong tác phẩm của ông, người ta có thể nhận ra tính cách và sự vượt trội của ông hơn hẳn những người trong nhóm. Nét bút vẽ của ông thật táo bạo, và đặc biệt ở tranh phong cảnh xa xa ông ta thiên về địa thế nghiêng và những sự thay đổi. Điều này gây sửng sốt nếu một ai đó nhìn vào bức tranh từ một quan điểm trình bày thuần túy, nhưng lại gây ấn tượng sâu sắc bằng sự tạo nên một cảm xúc

    [​IMG]

    660. Tranh phong cảnh. Của Wu Li (1632 - 1718). Tranh cuộn treo tường: mực trên giấy; cao 65,5 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình, Bắc Kinh.

    mãnh liệt sống động. Do bởi lý do này mà tranh họa của ông đã từng được sánh với tranh màu nước của Cézanne, và sự so sánh đó là đúng và sáng suốt. Khi nhìn chúng cạnh bên nhau, người ta có thể cảm nhận được mối liên hệ giữa những mục đích của họ, mặc dù Cézanne có sẵn phương tiện màu sắc để sử dụng hơn là những hệ thống màu đơn giản chẳng hạn như màu vàng rực, màu lục, và màu xanh của bậc thầy Trung Hoa.

    Theo truyền thống, một trường phái được kết hợp với nhóm bốn người họ Wang là trường phái Loudong (Lưu Đông), một số nhà họa sĩ này không thuộc chính thống mà cũng không hoàn toàn theo chủ nghĩa cá nhân. Hai người trong số này đặc biệt được người ta lưu ý đến. Một là Wu Li (Ngô Lý), người họa sĩ danh tiếng Trung Hoa duy nhất trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Lúc qua đời ông là một tu sĩ Dòng Tên (thuộc giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã), và do vậy ông là một trong số ít họa sĩ Trung Hoa được đồng hóa với trường phái chính thống của thời kỳ sau này lần đầu tiên được nghiên cứu và xuất bản thành sách có hiệu lực ở phương Tây. Wu Li, giống như bốn người họ Wang, sử dụng những khám phá của Dong Qichang, đặc biệt ở sự xây dựng những hậu nền đồ sộ của ông ta và ở những sự biến đổi của những rặng núi xa xa và những đỉnh núi của chúng, tạo nên những ấn tượng căng thẳng và dày đặc. Phong cảnh ở hình 660 đem lại một sự mô phỏng hài lòng và trung thực về những người đi trước gần gũi với ông và một sự tán thưởng nhẹ nhàng của những người xa cách nhiều hơn nữa. Nó cũng cho thấy khả năng của họ Wu khi xây dựng một bố cục đồ sộ; những lớp chồng lên nhau liên tục ở tiền cảnh dẫn đến một dãy núi thẳng đứng ở hậu cảnh, gợi lại một chút nào đó trong tâm hồn một số trong những bố cục của thời kỳ Bắc Tống. Ở phần chi tiết, nét bút của họ Wu ít lịch lãm hơn của Wang Hui nhưng hầu như là chính xác, một chút sắc bén hơn, và góc cạnh hơn, hầu như thể dùng dao chạm trổ. Nói chung nó là một tác phẩm chính thống, có mối liên hệ gần gũi với tranh họa của bốn người họ Wang hơn với bất cứ những người đi trước nào khác. Lẽ dĩ nhiên, tựa đề của nó thề hiện lý tưởng được tôn trọng vì có truyền thống lâu đời của hội họa Trung Hoa: một kiểu giải thích khác đầy sáng tạo của những truyền thống được tôn kính. Người họa sĩ thứ hai không thuộc chính thống mà cũng không phải là chủ nghĩa cá nhân là Yun Shouping (1633 - 1690). Xếp loại Yun là một họa sĩ vẽ hoa thì thật là sai lệch, bởi vì một số tranh phong cảnh của ông là những tác phẩm xinh đẹp, duyên dáng và trong sáng của nền hội họa Trung Hoa thuộc thời kỳ sau này. Nhưng khi là một họa sĩ vẽ hoa, ông là người rất nổi tiếng, và ở bức tranh trong Bảo tàng Cung Đình Quốc gia chúng ta có thể thấy - thậm chí ở trong một phiên bản đen trắng (h.661)- một điều gì đó mang phong cách ướt át của ông. Cây tre, ngay cả thân cây nằm phía bên phải, dường như được vẽ bằng một nét bút rất ướt át trơn tuột khắp bề mặt tờ giấy, không chỉ để lại một ấn tượng mờ ảo mà còn là một ấn tượng sắc bén, tương phản với nét bút khô khan của Wu Li và Wang Hui. Những sắc màu tinh tế ướt át được áp dụng tạo nên một ấn tượng như là của người Pháp và mang tính trang trí. Nhiều album nhỏ của họ Yun kết hợp những phong cảnh và các chủ đề về hoa. Tuy vậy, những bố cục phong cảnh của ông ta tương tự với bố cục của bốn người họ Wang và Wu Li và phần lớn dựa vào những họa sĩ cuối đời Minh; vì vậy ông ta thường được xếp vào nhóm chính thống chứ không phải thuộc những họa sĩ sáng tạo và độc đáo nhất của đời Thanh.

    Những nhân vật theo chủ nghĩa cá nhân là một mẫu người khác lạ. Nhiều người cảm thấy phẫn uất với triều đình và cảm thấy một bổn phận đạo đức nên họ từ quan và lui về chốn núi rừng hoặc những nơi ẩn cư của đạo Phật và đạo Lão, giống như những bậc thầy đời Nguyên, ở đây họ thực hành nghệ thuật của mình và đưa ra những lời lẽ phản đối những kẻ xâm chiếm. Một trong số những người này là Zhu Da (Chu Đại), ông thuộc dòng dõi hoàng gia đời Minh, và do vậy có lý do chính đáng để chống đối triều đình mới. Những người khác, giống như Kun-Can, là những nhà sư với một mối ác cảm mạnh mẽ đối với tầng lớp người Trung Hoa thế kỷ 17. Họ được kết hợp lại bằng một thái độ mang tính cách mạng trong mức độ nào đó của xã hội Trung Hoa và bởi sở thích chung của họ về hội họa. Ví dụ, Kun-Can, với một bức tranh nổi tiếng mô tả một nhà sư tham thiền trên một ngọn cây (h.662), một chủ đề truyền thống ở đây người họa sĩ đồng hóa với bản thân mình, đã viết lại câu như sau: “Vấn đề là bằng cách nào để người ta tìm thấy một sự an lạc trong thế giới khổ đau này. Quý vị hỏi tại sao tôi đến nơi đây tôi không thể nói được lý do. Tôi đang sống trên cao ở một ngọn cây và nhìn xuống phía bên dưới. Ở đây tôi có thể tránh xa mọi phiền toái giống như một con chim trong chiếc tổ của nó. Mọi người gọi tôi là một kẻ nguy hiểm, nhưng tôi trả lời: “Quý vị giống như những loài ma quỷ”.” Hoặc ở lời nói thẳng thắn đầy kinh ngạc, họa sĩ Yuan-Ji viết: “Tôi chính là tôi bởi vì tôi có một thân xác hiện hữu. Râu và lông mày của những người xưa không thể mọc trên mặt của tôi, cũng như phổi và ruột gan của họ nằm trong cơ thể của tôi. Tôi trút hết mọi thứ trong người của tôi ra bằng ruột gan của tôi và bộc lộ mọi điều bằng râu tóc và lông mày của tôi. Mặc dù đôi lúc tranh họa của tôi có thể tình cờ giống thế này thế nọ, chính ông ta là người giống tôi; và không phải tôi chủ tâm bắt chước phong cách của ông ta. Nó đương nhiên là vậy. Thực tế là tôi chưa từng học hỏi từ những bậc thầy quá khứ và chưa từng được họ truyền thụ!”.

    Những cảm nghĩ như thế chưa từng nghe nói đến trước đây, có thể có những họa sĩ đời Minh nào đó tự mãn về những sự cải biên của họ đối với những tác phẩm của những họa sĩ đi trước, nhưng chưa bao giờ được biểu lộ quyết liệt như vậy. Nếu như những người theo chủ nghĩa cá nhân tự nhận vu vơ, như thế chắc hẳn sẽ không có điều gì để nói đến. Nhưng những tranh họa của họ đã chứng minh cho sự kiêu hãnh và vị trí đổi mới của họ trong lịch sử mỹ thuật. Mặc dù những cuộc đổi mới xã hội mang tính thẩm mỹ ở một mức độ nào đó, nhưng họ không lẻ loi như người ta có thể suy tưởng. Ví dụ Wang Hui, ông là người đã vẽ cho hoàng đế và được xem là bậc thầy đứng đầu của trường phái chính thống; đã gọi Yuan-Ji là họa sĩ tài danh nhất ở vùng phía nam Dương Tử (Yangzi). Tranh họa

    [​IMG]

    661. Tre và cây cổ thụ. Của Yun Shouping (1633 - 1690). Tranh cuộn treo tường; mực trên giấy; cao 101,6 cm. Trung Hoa, Đời Thanh. Bảo tàng Cung đình Quốc gia, Đài Bắc.

    Của họ được những người sành điệu đương thời sưu tập, và không giống những người đồng nghiệp đầu đời Minh, họ tứ giã cõi đời một cách bình thường như bao người khác. Nhưng điều này cũng đúng - và nhờ bởi sự may mắn của chúng ta - đó là những nhà sưu tập hoàng gia và chính thống đã không quan tâm đến những tác phẩm của họ, do đó người ta trông thấy chúng được bảo quản tốt hơn ở những bảo tàng phương Tây và

    [​IMG]

    662. Nhà sư tham thiền trên cây. Của Kun-Can (Shiqi; 1612 - 1673). Tranh cuộn treo tường; mực trên giấy. Trung Hoa. Đời Thanh. Không biết rõ địa điểm.

    trong các bộ sưu tập tư nhân hơn cả ở Trung Hoa hoặc Đài Loan.

    Zhu Da (1626 - 1705) cũng được người ta biết đến dưới biệt danh Bada Shanren. Tác phẩm của ông ít nhất bao gồm hai phong cách chính: phong cách thứ nhất vay mượn nhiều những nguyên tắc sâu sắc của Dong Qichang. Trong khi hầu hết những họa sĩ khác thường phỏng theo những khía cạnh dễ hiểu hơn của Dong Qichang, thì

    [​IMG]

    663. Tranh phong cảnh phỏng theo của Guo Zhongshu. Của Zhu Da (1626 - 1705). Tranh cuộn treo tướng; mực trên giấy; cao 109,9 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Zhu Da lại chuyển hóa phong cách của mình thoát ra khỏi nhiều sự đổi mới quá cực đoan của Dong Qichang. Phong cách này ông có khuynh hướng sử dụng hầu như thường xuyên ở tranh phong cảnh, như ở hình 663. Theo những dòng chữ viết của Zhu Da, bức họa dựa trên một bố cục của bậc thầy ở thế kỷ thứ mười, Guo Zhongshu, nhưng chưa có người nào nhầm lẫn nó với bức họa thế kỷ 10, không có dòng chữ viết, và cũng không nhận ra sự tham khảo của ông ta, điều này có thể áp dụng cho tính cách đồ sộ quanh co của dãy núi. Ở sự táo bạo, sống động của nét bút và góc độ độc đáo của cây cỏ làm tăng thêm tiết hợp giống như hình chữ chi của bức tranh. Thậm chí Zhu Da vượt trội hơn cả Dong Qichang. Sự xây dựng bức tranh bằng phương pháp của một loạt những nét bút thăm dò tìm kiếm những tính cách cuối cùng được người ta nhận ra đầy đủ và cô đọng rõ ràng là nét đặc trưng trong phong cách của Zhu Da. Ở những tranh phong cảnh này, người ta cảm thấy được cái tính cách nổi bật lên dưới nét bút; người ta tưởng tượng đến người họa sĩ sáng tạo nên một cảnh đẹp sống động. Đây là một sự phản bác trực tiếp một câu tục ngữ xưa thường được lặp lại mà tất cả những tranh họa Trung Hoa đầu tiên đã nghĩ đến và sau đó được ghi chép hoàn thiện, và không có sự sửa chữa từ hình ảnh trong tâm. Một số được vẽ lên như vậy, nhưng chắc chắn không phải đa phần như thế. Thật vậy, người ta có thể nghiên cứu những tác phẩm của hầu hết bất cứ họa sĩ nào và thấy được nơi nào đã được họa sĩ sửa chữa, thay đổi, bổ sung, hoặc ở một cách nào đó cho thấy một phương pháp suy nghĩ và làm việc có thể so sánh với những phương pháp đặc trưng của những họa sĩ phương Tây. Có một phong cách khác của Zhu Da, một phong cách rất đặc trưng ở nghệ thuật của ông ta và hầu như cuốn hút những nhà phê bình phương Tây. Nó là một phong cách cực kỳ giản lược, được cân nhắc và rồi vẽ ra, đầy nhanh chóng và thoải mái. Chúng ta thấy nó được biểu hiện ở trong tranh cuộn cầm tay ngắn Cá và Đá (h.664). Nó bắt đầu với một tảng đá nhô ra lơ lửng những hoa cúc, được thực hiện với một ngọn bút vẽ hơi khô khan bằng những nét to sinh động, kèm theo một bài thơ nói đến tảng đá nhô ra, màu sắc những đóa hoa cúc và những đám mây trên bầu trời. Tiếp theo là một phần ướt át hơn hoàn toàn không được vẽ sắc nét như phần trước đó, mô tả một tảng đá lạ kỳ và hai con cá nhỏ được chứng thực là cá chép trong dòng chữ viết, và sự thay đổi quan điểm của người thưởng ngoạn từ thế giới bên trên cho đến thế giới bên dưới, từ trên trời cao xuống dưới nước. Đặc biệt cá là nét đặc trưng trong tác phẩm của Zhu Da, với sự sinh động rất lạ kỳ của chúng, mắt của chúng nhìn lên tảng đá và bầu trời bên trên. Mối thiện cảm hóm hỉnh, nét đặc trưng của hầu hết những tranh họa chim, cá và thú vật của Zhu Da là khía cạnh dễ dàng mô phỏng nhất trong nghệ thuật của ông và kết quả là thường bị làm giả. Cuộn tranh kết thúc bằng một đoạn văn ướt át. Người ta đã trải qua tứ nét bút khô khan cho đến nét bút ướt át, từ những hình dáng rất sắc bén cho đến dịu dàng và không rõ nét, giống những hình dáng của hoa sen trong nước, nơi đây cá có thể vượt ra khỏi thế giới của chúng. Bài thơ thứ ba ám chỉ đến hoa sen là biểu tượng của đạo Phật và một nơi trú ẩn. Thơ ca của Zhu Da sâu sắc và khúc chiết như tranh họa của ông. Thơ ca, thư pháp và hội họa được hợp nhất bởi tính súc tích và sự mờ ảo nơi sự thể hiện.

    Một trong những người theo chủ nghĩa cá nhân tuyệt vời khác, một họa sĩ và cũng là nhà sư Kun-Can (cũng được gọi là Shiqi), là một họa sĩ phức tạp hơn Zhu Da nhưng bị giới hạn trong phong thái của mình. Về sự hấp dẫn và tính uyên thâm, ông ta tương bằng với những họa sĩ khác cùng thời kỳ với mình. Hình 665, mô tả Chùa Bảo An (Bao’en) cho thấy nét xuất sắc nhất ở phong cách của ông. Sau Yuan-Ji, ông là một họa sĩ sử dụng màu ấn tượng nhất trong bốn người theo chủ nghĩa cá nhân, với những màu cam ấm áp nâng cao kết cấu chặt chẽ giống như dây thừng buộc với nhau được tạo nên bởi sự đan kết đa dạng ở những nét bút. Nét bút của ông thoăn thoắt và rập rờn, tạo nên một phong cách súc tích hơn và nhịp nhàng hơn của họa sĩ Wang Meng đời Nguyên. Tương phản với tính thô thiển rõ ràng và cứng nhắc của họ Wang, Kun-Can thể hiện một tính cách trang nhã tuyệt vời hơn, và một điều gì đó của sự việc này có thể thấy được ở hình dáng của những đám mây, ở những tảng đá và cây cỏ, và ngay cả ở sự trình bày đầy thuyết phục nơi mái tranh của ngôi nhà nhỏ đơn sơ. Tác phẩm của Kun-Can rất hiếm hoi so với những tác phẩm của những họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân khác, và tác phẩm đẹp nhất của ông hầu như không tồn tại ở phương Tây.

    Yuan-Ji (lúc trước tên của ông được đọc là Dao-Ji; 1641 - 1707), theo sự nhất trí của mọi người, ông là người hay thay đổi nhất trong bốn họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân này. Cách dùng màu của ông mang tính cách đổi mới - phong phú hơn, sâu sắc hơn, và gần gũi hơn đối với cách sử dụng màu nước của phương Tây so với bất cứ họa sĩ Trung Hoa nào cùng thời kỳ của ông hay trước đó. Ông say mê việc sử dụng một nét bút cực kỳ táo bạo đối với những màu sắc nhạt đặt liền kề bên nhau, đôi khi tạo nên một ấn tượng vững chắc và cân xứng không giống như ấn tượng đạt được ở kỹ thuật màu nước của phương Tây.

    Ông cũng có khả năng tạo nên sự tinh xảo và tỉ mỉ tuyệt bậc. Trong lĩnh vực bố cục, ông cũng là một nhà cải cách, bởi vì ông sáng tạo mỗi bức tranh với một thế giới mới lạ và độc đáo, và thường thay mới từng bố cục ở tranh họa Trung Hoa theo như lời ông đã phát biểu.

    Một tờ tranh nhỏ từ một album nhỏ ở Sen’oku Hakkokan đem lại một ý tưởng nào đó về phong cách tỉ mỉ, về nét bút tinh xảo, và cùng một lúc với bố cục độc đáo, mới lạ và táo bạo của ông (h.666). Hai nhân vật đưa vào một cảnh nằm phía dưới góc bên phải - một nhà hiền triết già có râu quai nón và một tiểu đồng - cả hai bị một màn sương phủ tứ hông trở xuống, họ đứng ở dưới một vách đá to lớn cheo leo có nhiều cỏ kết tua và chân vách đá cũng bị sương mù che phủ, cùng với một thác nước giống như những dải ruy băng chảy song song

    [​IMG]

    664. Cá và Đá. Của Zhu Da (1626 - 1705). Một phần của tranh cuộn cầm tay; mực trên giấy; cao 29.2 cm. dài 157,5 cm. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    665. Bảo An Tự (Bao’en Si). Của Kun-Can (Shiqi; 1612 - 1673). Niên đại tính đến năm 1664. Tranh cuộn treo tường. mực và màu trên giấy; cao 133,4 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Sen’oku Hakkokan, Kyoto.

    trên những tảng đá. Những dòng chữ viết được kết hợp trong tấm tranh nhỏ cho thấy mối liên quan đến chủ đề của Lão giáo (Đạo gia), sự sắp xếp của những hình ảnh này thật phóng túng, tuy vậy mạch lạc và thành công. Những nét bút nhỏ, duyên dáng chính xác tạo nên những chiếc lá trên những bụi cây ở bên trái của vách đá tương phản với những nét dài uốn éo tạo nên những lớp đá của vách đá. Những dây leo và cỏ bò khiến chúng ta cảm thấy giống như râu của ông lão và tóc của tiểu đồng. Tất cả đều cho thấy một sự suy nghĩ táo bạo, hướng đến sự hiểu biết sâu sắc bằng mắt. Giống như nhiều người trong số những họa sĩ này, Yuan-Ji đi nhiều nơi và đặc biệt thỏa thích nhìn ngắm phong cảnh, chủ yếu núi Hoàng Sơn ở tỉnh An Huy, dãy núi Đài Sơn ở Sơn Tây, và khu vực sông Tiêu và sông Tương ở Hồ Nam. Những bức tranh ở trong một ý tưởng hồi ức về chuyến đi tạo nên một nhóm tranh họa Trung Hoa dưới đây nói chung và đặc biệt tranh họa đời Minh nói riêng. Mỗi bức tranh của Yuan-Ji, dù là tờ tranh album nhỏ hoặc tranh treo tường lớn, đều là một cuộc phiêu lưu mới

    [​IMG]

    666. Một tờ tranh trong tám cảnh quan của núi Hoàng Sơn. Của Yuan-Ji (Shitao; 1641 - 1707); mực và màu trên giấy: rộng 27 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Sen’oku Hakkokan, Kyoto.

    [​IMG]

    667. Một ngàn đỉnh núi và vô số khe núi. Của Gong Xian (k.1619 - 1689). Tranh cuộn treo tường; mực trên giấy, cao 61,9 cm, dài 101,9 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Rietberg, Zurich.

    lại ở nhiều phương diện ông ta có thể sánh với Dong Qichang như là nhân vật cải cách và độc đáo nhất của thế kỷ 16 và 17.

    Người thứ tư trong những người theo chủ nghĩa cá nhân quan trọng nhất là Gong Xian (k.1619 - 1689). Mặc dù trong phong cách bị giới hạn nhất, nhưng rõ ràng ông ta có tác động mạnh mẽ và ấn tượng nhất. Tác phẩm của ông được mô tả khác lạ là buồn thảm, ảm đạm và đầy bất trắc, một thế giới của ma quỷ cư ngụ, hoặc sự thể hiện của một thiên tài xuất sắc và vô cùng ấn tượng với tính khí u sầu và đam mê.

    [​IMG]

    668. Những nét thuần túy giữa đồi núi và sông nước. Của Xiao Yuncong (1596 - 1673). Niên đại tính đến năm 1644. Một phần của tranh cuộn cầm tay; mực và màu trên giấy; cao 30,8 cm, dài 7,8 m. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Khổ tranh đặc trưng của ông là tranh cuộn treo tường, có lẽ được vẽ bằng những màu đen phong phú nhất chưa bao giờ được thành công như thế này ở hội họa Trung Hoa, sự tô những màu xám buồn thảm tương phản với màu trắng sậm của những đám mây cùng với sương mù và đá; và tranh phong cảnh của ông, giống như của Ni Zan, là không có người (h.667). Thiên nhiên phô diễn tất cả những điều ông muốn nói; ngay cả những nơi cư trú và những con thuyền được thể hiện ở tính cách mong manh nhất và rất giản lược. Ông viết một bản luận án về hội họa phong cảnh chứa đựng một lời khuyên là tranh phong cảnh phải cùng một lúc mang tính “thuyết phục” và “gây sự sửng sốt”, nghĩa là phải thuyết phục con mắt và kích thích cái tâm. Trong nhiều bức họa của ông, người ta có thể nhận thấy rõ ràng những ảnh hưởng phương Tây trong việc xử lý ánh sáng và bóng tối. Gong Xian tiến hành sự khảo sát những khả năng của bóng tối và ánh sáng mà chưa có ai trong lịch sử hội họa Trung Hoa thực hiện.

    Những người theo chủ nghĩa cá nhân thuộc thế kỷ 17 lên đến con số đáng kể. Điển hình là một nhóm được kết hợp với tỉnh An Huy, ở miền nam Trung Hoa, dãy Núi Vàng (Hoàng Sơn) của nó là nét địa lý đặc trưng nổi tiếng. Những tranh họa về Hoàng Sơn được mọi người biết đến kể từ đời Tống và ở trong những phạm vi kỳ lạ và phóng túng này bốn họa sĩ đầu tiên đã tìm được nguồn cảm hứng. Thành viên lớn tuổi hơn hết trong nhóm này là Xiao Yuncong (Tiểu vân Công) (1596 - 1673), không chỉ quan trọng về tranh mà ông còn có những sách minh họa. Họ Xiao thiết kế nhiều hình in bằng bản khắc gỗ minh họa một trong những bài viết phổ biến nhất về kỹ thuật hội họa Trung Hoa. Những bản in khắc gỗ từ cuốn sách này được sưu tập ở Nhật cũng như ở Trung Hoa gây ảnh hưởng tới nhiều họa sĩ thuộc giới nho sĩ ở cả hai quốc gia.

    Họ Xiao cũng nổi tiếng về ảnh hưởng đối với những người đương thời trẻ tuổi hơn ở tỉnh An Huy. Phong cách của ông được thể hiện trong tác phẩm mang tên Những nét đẹp tĩnh khiết giữa vùng đồi núi và sông nước, niên đại tính đến năm 1644, cho thấy sự vay mượn của ông ở bậc thầy đời Nguyên, Huang Gongwang (Hoàng Công Vương) (h.668). Đây là một tranh cuộn cầm tay dài kết thúc với một bến cảng nằm ở giữa những đám sương mù, tiếp theo là một cảnh cuối cùng của một chiếc hang có một nhà sư và một đệ tử của ông ta. Một chi tiết cho thấy một phương tiện điển hình của bố cục, với nhiều vùng đất cao và một tiết tấu đặc biệt sinh động dựa trên sự sắp xếp kề nhau cẩn thận của một vòng cung và một góc đối. Tiết tấu thường xuyên được lặp lại và hơi biến đổi này tạo thành một phong cách đặc trưng, độc đáo của họ Xiao. Hệ thống màu của ông một phần cũng xuất phát từ Huang Gongwang. Sự sử dụng màu xanh cây oải hương và màu hồng là tương tự với bảng màu được Huang Gongwang dùng, mà tác phẩm duy nhất còn lại được ông ta sử dụng màu.

    [​IMG]

    669. Mùa thu đến. Của Hong-Ren (1610 - 1664). Tranh cuộn treo tường mực trên giấy; cao 121,9 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Hàn lâm viện Nghệ thuật Honolulu.

    Họ Xiao hơi lớn tuổi hơn người thứ hai trong những Bậc thầy An Huy, họa sĩ vừa là nhà sư Hong-Ren (Hồng Nhân) (1610 - 1664) người đã theo học họ Xiao. Phong cách của Hong-Ren hoàn toàn khác biệt nhưng cho thấy rõ ràng nguồn gốc của nó có liên quan đến những tác phẩm của Ni Zan. Phong cách Hong-Ren thậm chí lạnh lùng hơn và giản lược hơn: mộc mạc, cô đọng, lạnh lẽo, và đặc biệt được thể hiện tinh xảo bởi nét bút cực kỳ nhạy cảm. Khi xem xét một hoặc hai bức tranh, cho thấy ông ta cũng học hỏi từ Xiao Yuncong, cũng như sự lặp lại nhịp nhàng trên tranh cuộn treo tường lớn của hình 669. Những bức tranh khác của họ Xiao, dường như lần lượt cho thấy ảnh hưởng của người học trò mình. Phong cách của Hong-Ren, được giới hạn và chuyên biệt theo như bản thân nó, cho thấy bằng cách nào mà phong cách của một trong bốn Bậc Thầy của đời Nguyên vẫn có thể dùng như chủ đề gốc đối với một sự thay đổi mang tính sáng tạo.

    Bậc thầy thứ ba trong nhóm An Huy, Zha Shibiao (Trà Thạch Biên) (1615 - 1698), là một cá tính khác lạ. Họ Zha dường như có tính khoan dung, và vui tính hơn, một họa sĩ gặp ít vấn đề hoặc những sự cản trở đối với những người thưởng lãm hội họa. Những bức tranh của ông có vẻ thoải mái và dễ chịu, như thể chúng được thực hiện nhanh chóng và vui tươi, không có ý tưởng về những hàm ý triết lý sâu xa. Một trong những tuyệt tác trong album của ông, có 12 cảnh vật, chúng hầu như đều tô màu, mô tả một chủ đề yêu thích ở đời Thanh, những đổi thay ở những phong cách của các bậc thầy trước đó, nhưng được làm hết sức rõ nghĩa vì vậy chúng trở thành những tác phẩm mới lạ và đầy sáng tạo. Một trong những tác phẩm này, có nghệ thuật tô màu rất độc đáo, là hình ảnh của mùa xuân không có bất cứ sự vay mượn nào từ những bậc thầy danh họa của quá khứ (h.670). Màu xanh lục và màu cam, được kèm với màu mực đen, tạo cho bức tranh rực rỡ, và được kết hợp với những màu xanh nhạt nhẹ nhàng ở cỏ cây tạo nên một ấn tượng màu sắc không giống màu sắc của Yuan-Ji, danh họa theo chủ nghĩa cá nhân. Vào thời kỳ này, màu sắc trở thành một phương tiện xây dựng lên hình ảnh và những người theo chủ nghĩa cá nhân thế kỷ 17, hoặc bốn bậc thầy danh họa hoặc những nhân vật thứ yếu chẳng hạn như nhóm An Huy, đặc biệt đầy sáng tạo ở cách sử dụng của nó.

    Người cuối cùng của nhóm An Huy, Mei Qing (Mỹ Thanh) (1623 - 1697) có lẽ có phong cách chủ nghĩa cá nhân nhất trong nhóm, và dường như giống Zha Shibiao, có một tinh thần khá thanh thản. Ông sắp xếp những yếu tố hình ảnh biến đổi, chúng là những dãy núi được thể hiện ở những nét bút đường viền răng cưa vỏ sò rời rạc hoặc cây xanh và rừng rậm trông giống như những bông hoa to lớn mang tính trang trí lạ thường (h.671). Giống như Giao Yuncong, họ Mei dùng những họa tiết lặp lại, nhưng tạo cho chúng những ấn tượng như sóng cuộn, cầu kỳ.

    Vào thế kỷ 18, người ta đã chứng kiến sự nối tiếp truyền thống chủ nghĩa cá nhân trong tác phẩm của nhiều họa sĩ. Một trong những nhân vật thú vị nhất của truyền thống này là Hua Yan (Hoa Yên), nổi tiếng không chỉ về tranh phong cảnh mà còn ở những tranh họa thú vật, chim muông trong một phong cách mang tính trang trí mở rộng, mới lạ. Một trong những tuyệt tác của ông là tranh cuộn treo tường có tên Đàm đạo trong mùa Thu (h.672), một tranh minh họa về một tác phẩm văn xuôi nổi tiếng đời Tống của Quyang Xiu (1007 - 1072). Tác giả suy tưởng về sự mượt mà lạ kỳ của những chiếc lá mùa thu xào xạc, và dòng suối chảy róc rách. Hua Yan dường như đã đạt được những nét đặc sắc này, trong một tác phẩm nổi tiếng ở Trung Hoa kể từ khi nó được vẽ lên. Ngọn núi cao hầu như không thể vẽ được - giống như những ngọn núi được nhận ra ở trong tác phẩm của họa sĩ Mei Qing trong nhóm An Huy - dường như vượt cao đến tận bầu trời, như thể nó là một chất dẻo thay vì đá và đất. Phần bên dưới của bức tranh kết hợp với những tảng đá uốn lượn bổ sung thêm túp lều của người hàn sĩ bằng sự xử lý những tán lá và tre. Những chiếc lá rơi rụng lìa cành như người ta thường liên tưởng đến màu thu, có một nét duyên dáng du dương như một bài ca, cùng một lúc gợi lên tiết tấu của một giai điệu trầm bổng và dáng vẻ nổi bật của nó trên giấy. Những họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân khác trở thành những nhà sư trong truyền thống họa sĩ - tu sĩ Trung Hoa. Hai trong những người này là Jin Nong (1687 - 1763) và Luo Ping (1733 - 1799), họ là thầy và trò và những phong cách của họ đều giống nhau. Truyền thống Trung Hoa cho rằng Jin Nong không phải là một họa sĩ giỏi và vì thế nhiều bức tranh được ký tên bằng nét đặc trưng theo nghệ thuật viết chữ đẹp hơi có hình vuông thực tế do Luo Ping vẽ. Phong cách kỳ lạ của hai bậc thầy này quay trở lại với truyền thống hội họa phong cảnh cải biến - một lối chơi chữ bằng thị giác - người ta đã nhìn thấy trong Vườn Sử tử của Ni Zan. Trong tranh họa của Luo Ping (h.673), một chủ đề Thiền Phật giáo được thể hiện trong một phong cách xuất phát tứ những bậc thầy cuối đời Bắc Tống được kết hợp mạnh mẽ với Thiền chẳng hạn như Mu Qi và Liang Kai. Tuy vậy, sự diễn tả cô đọng không gò bó của toàn bộ tác phẩm là ở tính cách thuộc chủ nghĩa cá nhân thế kỷ 18 - một bản sao chép được khắc chạm trên một bia đá ở Tô Châu năm 1765.

    Jin Nong và Luo Ping có lẽ là những người theo chủ nghĩa cá nhân nổi tiếng cuối cùng của đời Thanh. Kể tứ năm 1800, tranh họa Trung Hoa trở nên nhàm chán khuôn sáo, mặc dù tác phẩm thú vị đôi lúc có xuất hiện trở lại. Những nỗ lực hiện đại trong phong cách “chủ nghĩa cá nhân” truyền thống đang được người ta ưa thích nghiên cứu. Nhưng những nỗ lực nhằm đưa “chủ nghĩa hiện thực của những người ủng hộ” vào hội họa đương đại chỉ tạo nên những sự ngớ ngẩn nhàm chán có thể sánh với nền nghệ thuật được phê chuẩn của Đức Quốc Xã. Những họa sĩ đầy năng lực và đôi lúc là thiên tài vẽ hoa và chim muông, một thể loại được Hoàng đế Càn Long rất yêu thích, cũng được trưng bày trong Bảo tàng Cung Đình Quốc gia. Những bức tranh phong cảnh xuất sắc ở truyền thống chính thống, xuất phát từ nhóm họ Wang thế kỷ 17, cũng được vẽ. Nhưng những họa sĩ này không giúp ích cho một cuộc tổng điều tra trong lĩnh vực này. Tuy vậy, một họa sĩ cần được đề cập đến như là một biểu tượng của ảnh hưởng phương Tây thuộc thế kỷ 18, ở Trung Hoa, họa sĩ - tu sĩ Thiên Chúa giáo Giuseppe

    [​IMG]

    670. Mùa xuân, trích từ album phong cảnh với những phong cảnh khác nhau. Của Zha Shibiao (1615 - 1698). Niên đại tính đến năm 1648. Album, mực, hoặc mực và màu trên giấy cao 29,8 cm, rộng 39,4 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    671. Một tấm tranh phong cảnh phỏng theo nhiều phong cách của những Bậc thầy ngày xưa. Của Mei Qing (1623 - 1697). Niên đại tính đến năm 1690. Album, mực, hoặc mực và màu trên giấy; cao 28,6 cm, rộng 44,1 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Castiglione, được người Trung Hoa gọi là Lang Shi'ning. Castiglione, một sứ giả của Triều đình Trung Hoa, đã đem về những kỹ thuật hội họa của người ý, học hỏi được ở Genoa. Ông ta trở thành một người được triều đình Trung Hoa yêu chuộng, đã vẽ nhiều bức tranh cho những hoàng đế cũng như đặt ảnh hưởng lên sự trang trí đồ gốm sứ. Có một số những cuộn tranh pha trộn tính cách phương Tây và Trung Hoa; một ít là hoàn toàn Trung Hoa. Tranh cuộn cầm tay ở Bảo tàng Cung Đình Quốc gia,

    [​IMG]

    672. Đàm đạo trong mùa Thu. Của Hua Yan (1682 - 1756). Niên đại tính đến năm 1732. Tranh cuộn treo tường; mực và màu trên giấy; cao 115,3 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    673. Han Shan và Shi De. Của Luo Ping (1733 - 1799). Tranh cuộn treo tường; mực và màu nhạt trên giấy; cao 78,4 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Nelson-Atkins, thành phố Kansas.

    dài tứ 5m đến 7m và mô tả hàng tnăm con ngựa, một đề tài quay trở lại đời Đường, đặc trưng kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực phương Tây ở sắc thái mô phỏng những con ngựa với những quy ước Trung Hoa ở tranh họa cây cỏ và núi non (h.674). Tuy vậy, hai tính cách này chưa kết hợp thành công. Những tác phẩm của Castiglione xinh đẹp, màu sắc lòe loẹt và kỳ lạ, nhưng chúng không được xem trọng như là những tác phẩm hoàn toàn ở phong cách ý hoặc Trung Hoa. Sự pha trộn hai phong cách tương phản với phong cách

    [​IMG]

    674. Một tnăm con ngựa trên Đồng Cỏ. Của Lang Shi'ning (Giuseppe Castiglione; người Ý, hoạt động ở Bắc Kinh (1715 - 1766). Một phần của tranh cuộn cầm tay; mực và màu trên lụa; cao 94,6 cm, dài 7,7 m. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình Quốc gia, Đài Bắc.

    cầu kỳ theo mô típ Trung Hoa ở châu Âu thế kỷ 1 8 (đặc biệt ở đồ gỗ, đồ gốm sứ và vải sợi) (chinoisene).

    Trung Hoa vào thế kỷ 19 trải qua đau thương vì cuộc dấy loạn Thái Bình Thiên Quốc (1850 - 1865) và bị sỉ nhục về chính trị và quân sự liên tục do các quốc gia phương Tây gây nên, không phải là cội nguồn của nền hội họa tuyệt vời. Nhưng sự khổ đau và những thảm họa thiên nhiên vẫn gợi lên những tác phẩm đáng trân trọng trong hai khuôn mẫu truyền thống phản ứng lại - sự phản ứng bằng cách rút lui sống biệt lập hoặc giận dữ chống lại. Zhang Yin (1761 - 1829) và Qian Du (1763 - 1844) là những bậc thầy tuyệt vời của phạm trù thứ nhất. Người được đề cập đầu tiên sáng tạo những

    [​IMG]

    675. Phong cảnh dược bổ sung cho tranh chân dung Xiangshan ngồi trong lúc ngắm những đám mây bay lên. Của Qian Du (1763 - 1844). Niên đại tính đến năm 1838. Tranh cuộn treo tường; mực và màu trên giấy; cao 172,5 cm, rộng 53,8 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình Bắc Kinh.

    [​IMG]

    676. Tranh tự họa. Của Ren Xiong (1820 - 1857). Tranh cuộn treo tường, mực và màu trên giấy; cao 177,5 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình, Bắc Kinh.

    tác phẩm có cung cách điềm tĩnh ít đồ sộ, người sau sáng tác những kiểu cách được giản lược và hết sức nhạy cảm thuộc ngày xưa được mở rộng hơn (h.675). Sự phản ứng giận dữ đem lại một hình thức mới lạ trong những tác phẩm của Ren Xiong (1820 - 1857), thậm chí như là một cuộc cách mạng, được biểu hiện bởi bức tranh chân dung tự họa của ông với cái nhìn thứ người và phiền muộn với một thái độ không nao núng (h.676). Ở bối cảnh hội họa Trung Hoa, bộ ngực để trần của họ Ren thể hiện tính cách mạnh mẽ và khác thường, trong lúc đó bộ y phục mang sự phẫn nộ đáng chú ý tương phản với thân hình bất động của ông.


    Đồ gốm sứ

    Chỉ mới gần đây người ta vẫn thường đánh giá thấp đồ gốm sứ thế kỷ 17 và 18. Chúng được những nhà sưu tập danh tiếng thuộc đầu thế kỷ 20, bao gồm J.P.Morgan, Benjamin Altman, và P.A.B. Widener dành tình yêu đầu tiên cho chúng. Người ta nhớ đến những tủ kính có gương phản chiếu trong viện bảo tàng trưng bày sáu chiếc bình màu đỏ đậm biến thành sáu tnăm chiếc bình màu đỏ đậm, tạo nên sự dư thừa quá mức. Nhưng thật không công bằng khi kết tội những tác phẩm cuối thời kỳ ở những khía cạnh này, do bởi sự tinh xảo về kỹ thuật thể hiện một đỉnh cao của nhiều tác phẩm trong truyền thống gốm sứ Trung Hoa. Không có những đồ sứ tuyệt đẹp hơn được người ta làm ra trước đó hoặc do bởi tứ quan điểm về những vật liệu và kỹ thuật. Những đồ gốm sứ do những nhà sưu tập nổi tiếng có được thuộc đầu thế kỷ thường phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của người Pháp ở thế kỷ 18, giống như phần trang trí còn lại ở những lâu đài to lớn nơi họ đã cư ngụ. Người Trung Hoa cũng như người Nhật làm đồ sứ nhằm phục vụ sự tiêu thụ của người Anh và người Pháp ở thế kỷ 18. Những chiếc bình táo gai màu đen, hoặc màu xanh dương nhạt, những chiếc hũ có mẫu trang trí bằng lớp men bóng màu hồng hay xanh lục gần như hoàn toàn được yêu thích. Ngày nay chúng là những đồ vật yêu dấu của những nhà sưu tập Hồng Kông và Đài Bắc. Một loại đồ sứ khác cho đến gần đây người phương Tây mới biết đến - đồ sứ theo thị hiếu thẩm mỹ Trung Hoa - ngày nay đã lôi cuốn sự chú ý của các bảo tàng và những nhà sưu tập phương Tây.

    Một bản tường thuật tóm tắt về truyền thống đồ sứ đời Thanh, dựa trên vẻ bề ngoài và kỹ thuật là thiết yếu trước khi chúng ta xem xét đồ sứ quý báu được chế tạo chỉ dành riêng cho triều đình nhà Thanh. Đồ sứ đơn sắc tiếp tục được sản xuất với kỹ thuật tinh xảo hơn bao giở hết ở đời Thanh. Kỹ thuật cơ bản của màu men bóng đơn sắc được người ta trông thấy ở đồ sứ màu đỏ thẫm, bình là hình dáng rất quen thuộc. Màu men bóng, tiếng Pháp gọi là sang de boeuf nghĩa là màu máu bò, thường có màu xám nhạt ở miệng bình, dần dần trở thành màu đỏ đồng đậm hơn cùng với những phần sáng hơn có màu nâu đỏ, và nó dừng lại ở một đường phẳng nằm ở mép viền chân bình không có sự trợ giúp nào ngoài kỹ xảo của người thợ gốm. Sự rực rỡ của màu đỏ tươi này tạo cho nó thành một trong những màu men ấn tượng và táo bạo nhất, hết sức tương phản với màu men xít đồng khác của một màu sắc rất duyên dáng, ở phương Tây người ta biết đến là màu mọng đỏ của hoa đào nở và với người Trung Hoa là màu táo đỏ Trong khi những đồ gốm sứ có màu máu bò hay đỏ thẫm có vẻ như nằm sâu dưới một bề mặt trong suốt, rực rỡ, thì màu đỏ hoa đào dường như gần gũi hơn với bề mặt vải và thảm dệt giống như lông tơ của một quả đào - vì thế mới có tên gọi như vậy Đôi khi màu hồng được pha lốm đốm với màu xanh lục nhẹ, hoặc gần với màu tro hồng hơn là màu hoa đào. Những nhà sưu tập thích thú trong việc phân biệt những sắc thái màu ở từng mẫu gốm đặc biệt; đôi lúc tạo nên những mức độ tuyệt đối về sự phân loại chi tiết. Ở đây người ta phân biệt tro hồng với màu hoa đào nở hầu như không phải là một vấn đề nghiêm trọng. Tám hình dáng được ấn định về đồ sứ màu hoa đào sản xuất cho dự tính của hoàng gia, hầu như đều thuộc triều vua Khang Hy. Một trong tám hình dáng được gọi là bình cánh sen, hoặc, ít kỹ lưỡng hơn là bình hoa cúc, được trình bày ở đây bằng một mẫu vật hoàn hảo. Một mẫu vật đơn sắc quý báu khác là men ánh sáng trăng (clair de lune), màu xanh dương nhạt gợi lên cái tên mang tính chất thơ ca của nó (h.677). Việc sản xuất những đồ sứ clair de lune - bằng những hình dáng khác nhau kể luôn những hình dáng được định cho màu hoa đào nở - phần lớn cũng giới hạn trong đời vua Khang Hy. Những đồ gốm sứ đơn sắc quan trọng hầu như xuất hiện vào đầu triều vua này, những triều vua Ung Chính và Càn Long có những loại đồ trang trí phong phú hơn.

    Một nhóm đồ sứ đơn sắc khác thường có niên đại Ung Chính hoặc Càn Long, được sử dụng ôxít sắt để tô màu men bóng. Trong những đồ sứ đơn sắc này nổi tiếng nhất có màu men bã trà, một lớp men đục màu trà xanh với một kết cấu hay bề mặt hơi có hạt. Những hình dáng của loại đồ sứ màu bã trà đơn giản thường hợp với thị hiếu thẩm mỹ hiện đại so với đồ sứ đơn sắc tinh xảo và đồ sứ trang trí công phu. Nước men màu táo xanh lục thực tế là màu men lục được phết trên một lớp men màu giống như đá, tạo nên màu vàng chanh rực rỡ.

    Màu men bóng Xanh - Trắng trang trí phía dưới được tiếp tục ở những đồ sứ hoàn hảo lạnh lùng được chế tạo bằng kỹ thuật cơ bản của đời Minh. Do bởi ấn tượng ít lạnh lùng và rực rỡ, những người thợ gốm đời vua Khang Hy và sau này (theo Père d’Entrecolles, viết vào năm 1722 ở Cảnh Đức Trấn (Jingdezhen)) đã thay thế kaolin (đất sét trắng) ở thân gốm với đá steatite (một loại đá mền giống như xà phòng dùng làm đồ trang trí và tượng). Kỹ thuật này tạo nên một loại đồ sứ màu trắng kem, có một điều gì đó ít thuần nhất, được người phương Tây biết đến là đồ sứ bột dẻo mềm Trung Hoa (h.678). Loại đá steatite này cũng được sử dụng như một lớp men bằng đất sét lỏng tráng ở trên đồ sứ cơ bản. Sự mềm mại của loại thân gốm này và lớp men bằng đất sét lỏng tạo trên nền đường răn nhẹ ở lớp men phủ.

    [​IMG]

    677. Bình. Đồ sứ với lớp men clair de lune; cao 15,9 cm. Trung Hoa. Đời Minh, triều vua Khang Hy (1661 - 1722). Bảo tàng Mỹ thuật Thủ đô, New York.

    Những sự đổi mới tuyệt vời nhất ở đồ sứ đời Minh được người ta tìm thấy ở những đồ sứ trang trí tráng men, hệ thống tên gọi của chúng theo tiếng Pháp - famille verte, famille rose, famille noire - bây giờ là những ngôn ngữ rất quen thuộc. Một số hình thức sử dụng một bảng màu hạn chế - một màu men, thêm màu đen, trong một hình thức trang trí những đóa hoa mẫu đơn súc tích nhưng phong phú nổi bật trên một nền men xanh lục. Nhiều màu sắc hơn và tính cách trau chuốt tuyệt vời hơn là một vấn đề về kỹ thuật. Đồ sứ famille verte là loại đồ sứ màu xanh lục gồm có những chiếc bình to lớn với những lớp men màu xanh lục, màu hồng, màu đen, và màu nâu, đôi khi kể luôn lớp men bóng màu xanh ở dưới hoặc ở trên, với màu xanh lục nổi bật. Những hình thức trang trí là những mô típ hoa lá hoặc những cảnh vật theo phong cách kể chuyện từ những câu chuyện hay tiểu thuyết nổi tiếng, vớt mẫu trang trí mạnh mẽ và táo bạo (h.679). Kỹ thuật famille verte cũng được sử dụng bằng sự kết hợp với kỹ thuật màu men đen làm nền, ở đây màu men đen mang lại một vẻ bề ngoài ấn tượng sâu sắc và ảm đạm, tương phản với thông lệ có tông màu trong suốt, trắng tuyền ở hầu hết đồ sứ Trung Hoa đời Minh và đời Thanh. Một lần nữa chúng ta có thể ghi nhận sự kết hợp phù hợp thị hiếu thẩm mỹ của người Pháp thuộc thế kỷ 18.

    Famille rose, loại đồ sứ màu hồng, càng đặc trưng hơn vào những thời kỳ sau triều vua Ung Chính và Càn Long. Những loại đồ sứ này hầu như luôn luôn cho thấy nền màu trắng, với những lớp men hồng hoặc vàng

    [​IMG]

    678. Bình chai. Đồ sứ chất dẻo mềm với mẫu trang trí dưới men bóng màu xanh; cao 28,6 cm. Trung Hoa. Đời Thanh, dấu triện trổ và Ung Chính (1722 - 1735). Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    679. Bình kiểu cột lan can. Đồ sứ với tranh màu ve chai trên nền đen; cao 44,1 cm. Trung Hoa. Đời Thanh, triều vua Khang Hy (1661 - 1722). Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    nổi bật và màu xanh lục như là một biểu tượng thứ yếu ở tán lá. Những nước men hồng đôi khi được sử dụng trên những chiếc bình và đã to có mẫu trang trí hình hoa đào hay hoa mẫu đơn, những quà tặng mừng sinh nhật của hoàng đế, nhưng những đồ sứ nhỏ hơn lại hết sức tinh xảo. Một số đồ sứ to lớn hơn được xuất khẩu, và chính những mẫu vật này lần đầu tiên nằm trong những bộ sưu tập quan trọng của người Mỹ.

    Những cuộc khởi đầu bộ sưu tập của Sir Percival David vào cuối thập niên 1920, và Cuộc Triển Lãm Luân Đôn năm 1935, khiến người phương Tây thật sự nhận thức rằng kỹ thuật famille rose cũng được dùng cho những đồ sứ hoàng gia với phẩm chất vượt trội hơn. Những đồ sứ tráng men này được người Trung Hoa gọi là đồ sứ “trang trí men nổi”, hoặc đôi lúc, sau năm 1743, là mẫu trang trí “men nước ngoài” (fa lang). Ở phương Tây chúng được gọi là “Cổ nguyệt tuyền” (gu yue xuan), một sự dùng tên tứ sai lệch xuất phát tứ một nhóm chai lọ thủy tinh thuộc cuối thế kỷ 18 và 19 được sản xuất cho tư nhân sử dụng, nhưng chúng ta đề nghị quay trở lại những sự gọi tên theo truyền thống Trung Hoa.

    Phong cách mới lạ và sáng tạo này, có lẽ cho thấy ảnh hưởng phương Tây, xuất hiện vào ngay cuối thời kỳ vua Khang Hy. Dựa trên cơ bản, người ta khám phá ra rằng màu trắng đục chì thạch tín có thể pha trộn với những loại men màu ở những tỷ lệ khác nhau để tạo ra những đốm màu khác nhau và những sắc màu (được gọi là fen cai, “những màu bột”).



    [​IMG]

    680. Bình chai. Đồ sứ famille rose (loại hồng), fa lang (còn gọi là gu yue xuan); cao 13,3 cm. Trung Hoa. Đời Thanh, dấu triện triều vua Càn Long (1735 - 1795). Hiệp hội Mỹ thuật Trung Hoa Percival David, Luân Đôn.

    [​IMG]

    681. Bát. Đồ sứ loại famille rose. phong cách “fa lang” (được gọi gu yue xuan) với mẫu trang trí hoa mận đường kính 11,4 cm. Trung Hoa. Đời Thanh, dấu triện đời vua Ung Chính (1722 - 1735). Hiệp hội Percival David Mỹ thuật Trung Hoa, Luân Đôn.

    Ở những đốm màu này những kiểu trang trí được tô bóng được thực hiện trên những nền màu hồng hoặc màu vàng rực rỡ. Hầu như tất cả những mẫu vật đồ sứ men nổi có dấu của triều đại ở đáy của chúng, nhưng không ở loại đồ sử thông thường có màu xanh nằm dưới lớp men bóng, nhưng ở phong cách đời Tống những chữ bằng men nổi màu xanh hoặc đôi khi màu hồng. Đỉnh cao của kỹ thuật đạt được ở triều vua Ung Chính và ở những năm đầu đời vua Càn Long, dưới sự điều hành của Niên Tây Diệu (Nian Xiyao) và Đường Anh (Tang Ying) thuộc lò gốm của hoàng gia tứ năm 1726 - 1756. Những tác phẩm được sản xuất chẳng hạn như chiếc bình tuyệt mỹ ở hình 680, kết hợp thơ ca với mẫu trang trí hoa lá bằng loại men hồng (famille rose) là một sự thể hiện được kết hợp bằng hội họa và nghệ thuật gốm sứ tinh xảo và trữ tình. Người ta có thể yêu thích đồ sứ đời Tống, đồ gốm đời Đường hoặc đồ đất thời kỳ Đồ đá mới, nhưng người ta không thể phủ nhận được phẩm chất tuyệt mỹ của những loại đồ sứ này được sản xuất với số lượng nhỏ dành cho triều đình.


    [​IMG]

    682. Lư trầm. Ngọc; cao 1512 cm. Trung Hoa. Đời Thanh, triều vua Càn Long (1735 - 1795). Bảo tàng mỹ thuật Cleveland.

    Cái bát ở hình 681 cho thấy ảnh hưởng phong cách hội họa wen ren tinh xảo trong sự sử dụng màu đen trắng duy nhất cho mẫu trang trí truyền thống hoa mận trên đồ sứ trắng như tuyết.

    Những hình thức nghệ thuật trang trí khác

    Những hình thức nghệ thuật trang trí khác có tính cách nghệ thuật xuất sắc, và thường rất thú vị, thậm chí đẹp về mặt trang trí. Chúng thể hiện một kỹ năng bậc thầy không ai sánh kịp, thông thường có vẻ do bởi tính kiên trì sáng tạo hơn là bởi cảm hứng: “Đức tính kiên trì của tôi đã dành rất nhiều cho những tác phẩm!” Từ điều này người ta nói thêm “Kết thúc với điều gì?”. Tuy vậy, kỹ năng bậc thầy có thể sáng tạo một cái đã ngọc màu xanh lục mỏng đến độ trong mở được người ta ngưỡng mộ và xứng đáng được nói đến ở bất cứ lịch sử mỹ thuật trang trí Trung Hoa nào. Lư trầm bằng ngọc hình 682 có một mẫu trang trí bằng những đường vân nổi, tạo nên như một ấn tượng có từng ô trên bề mặt. Một tay nghề như thế thể hiện sự khéo léo, điêu luyện chỉ có những nghệ nhân của triều đình mới tạo ra được. Tất nhiên những đồ mỹ nghệ như thế này, làm hài lòng thị hiếu thẩm mỹ đầu thế kỷ 20 và đáng để bất cứ ai khâm phục với kỹ thuật siêu việt của họ, đã được sao chép rất nhiều và được thực hiện cho đến ngày nay. Khả năng để phân biệt giữa một mẫu vật xinh đẹp thế kỷ 18 và một mẫu vật thuộc thế kỷ 20 là tính máy móc đem đến sự xử lý dáng vẻ nhàm chán; một khi đạt được, nó cho chúng ta thấy rằng dụng cụ máy móc không thể thay thế được tay nghề thủ công khéo léo.

    Sự phát triển phong phú về y phục của quan lại cùng với lễ phục quan trọng khác nhau của những cấp bậc trong triều đạt đến những đỉnh cao mới lạ trong những triều vua Mãn Thanh, dẫn đến những bộ quần áo lụa thêu, khảm lộng lẫy. Hình thức này giống như nét đặc trưng trang trí phức tạp và độc đáo được người ta nhận ra ở một số đồ sứ và ngọc. Từ sự kiện này cho đến những sự lặp lại rỗng tuếch của nền Đế chế cuối cùng trước nền Cộng Hòa như là một bệnh nhân trút hơi thở khó khăn trước khi lịm chết.

    Triều đại người nước ngoài quan trọngthứ hai làm bá chủ toàn lục địa Trung Hoa lànhà Thanh (1644 - 1912). Hầu như có sựkhác biệt lớn lao giữa sự cai trị của nhàThanh và Mông Cổ. Mặc dù có những biếnđộng chính trị và quân sự, nhưng nhữngkhuynh hướng thế tục rõ ràng vào giữa đờiMinh vẫn tiếp tục hoặc thậm chí tăng tốcdưới thời nhà Thanh cai trị - đô thị hóa giatăng, thương mại phát triển, sự truyền bágiáo dục rộng lớn hơn bao giờ hết.

    Theo như cái tên hàm ý của họ, người Mãn đến từ Mãn Châu. Họ hoàn toàn không bị lệ thuộc Trung Hoa, có đủ sức để tiếp cận, học hỏi ý thức hệ và những cơ cấu của người Trung Hoa. Sự suy thoái kinh tế càng trở nên trầm trọng, do bởi sự bất lực của chính quyền, tham nhũng, và chủ nghĩa bè phái đã dẫn đến sự nổi dậy để làm sụp đổ nhà Minh. Người Mãn Châu thể hiện bản thân mình không phải là những người chinh phục mà là những người giải phóng người Trung Hoa thoát khỏi cảnh hỗn loạn và áp bức. Họ đã chiếm được Trung Hoa với tư cách một đối thủ tương đối có dân số nhỏ bé hơn. Nhà Thanh cũng đạt được thành công như vậy khi tranh thủ sự ủng hộ của giới trí thức Trung Hoa, cho nên mối ác cảm của những người theo đạo Khổng chống lại sự hợp tác với chế độ mới gần như bị xua tan. Người Mãn Châu chiến thắng là người ít chịu gian khổ nhất trong sự chuyển tiếp triều đại Trung Hoa. Một thế kỷ rưỡi đầu tiên dưới sự cai trị của người Mãn Châu là thời đại hoàng kim cuối cùng của đế chế Trung Hoa.

    Cùng một lúc, chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng chủ nghĩa trung thành với nhà Minh vẫn còn duy trì mạnh mẽ trong giới trí thức Trung Hoa với ít nhất là một thế hệ sau khi nhà Minh sụp đổ. Đạo đức Tân Khổng giáo không cho phép bầy tôi thờ hai chúa và tán dương những ai tận trung với chủ của mình cho đến hơi thở cuối cùng. Nhưng cũng có thể chấp nhận điều này, là để chứng tỏ lòng thủy chung như thế nhưng ít thê thảm hơn, bằng cách mang một cái tên mới và một lối sống hoàn toàn khác biệt - nói một cách khác, bằng cách tứ bỏ vai trò bình thường trong xã hội của mình - như là những họa sĩ đã làm mà chúng ta sắp xem xét đến.

    Ngay cả trước khi hướng cuộc chinh phục đến Trung Hoa, những nhà lãnh đạo người Mãn đã được sự hỗ trợ của các cố vấn Trung Hoa, đã bắt chước những cơ cấu hành chính và kỹ thuật Trung Hoa. Là những người chinh phục, họ bảo tồn tập quán xã hội của đời Minh để lại (trong lúc đó áp đặt bản thân mình chấp nhận chúng đến mức tột đỉnh), và nỗ lực đạt được sự hiểu biết nền văn hóa Trung Hoa, bao gồm luôn khái niệm Thiên Tử như là một khuôn mẫu điển hình và là người đỡ đầu về học thuật và nghệ thuật. Đặc biệt quan tâm đến mỹ thuật, những người Mãn trị vì đã trở thành người Trung Hoa còn hơn cả người Trung Hoa, tập trung vào Hoàng Thành Bắc Kinh, bộ sưu tập Cung Đình - ngày nay là Bảo Tàng Cung Đình Quốc gia được chia đôi: một ở Bắc Kinh và một ở Đài Bắc.

    Hội họa

    Việc phân chia lịch sử nghệ thuật Trung Hoa thành nhiều thời kỳ của các triều đại đôi lúc có vẻ lợp lý, nhưng giữa các triều đại nhà Minh và nhà Thanh sự liên tục về những nền nghệ thuật như thế này mà phần thứ nhất thuộc triều Thanh, đặc biệt thế kỷ 17, có thể được xem là một sự nối tiếp, ở một số tính cách nào đó là một thành quả cuối cùng, thuộc những khuynh hướng đã thể hiện trong hội họa và những phong cách mỹ thuật trang trí của thời kỳ sau đời Minh. Nó hoàn toàn không phải là một thời kỳ suy giảm khiếu thẩm mỹ và những tiêu chuẩn, do bởi sự tập trung quá mức ở những đồ gốm sứ xuất khẩu mang tính Trung Hoa có thể dẫn đến hậu quả người ta suy nghĩ như thế.

    Hội họa đời Thanh bao gồm hai phong cách cơ bản: phong cách bảo thủ dựa trên tranh họa của giới nho sĩ cuối đời Minh từ nhà cải cách quan trọng, Dong Qichang; và một phong trào sáng tạo, độc đáo hoàn toàn mang tính chủ nghĩa cá nhân hơn bất cứ trường phái nào trước đó. Vào lúc khởi đầu triều đại, những phong cách hội họa đi song song với sự liên kết chính trị. Những người ủng hộ nhà Thanh có khuynh hướng tiến đến hội họa chính thống, những người trung thành với nhà Minh hướng đến chủ nghĩa cá nhân. Một sự phân chia như thế trở thành những dòng chảy mang tính bảo thủ và độc đáo không nhận những lỗ thủng trí tuệ khác của hội họa Trung Hoa, chúng chính xác là những giai đoạn suy tàn của những phong cách đời Nguyên, đời Tống và đầu thời kỳ nhà Minh. Chúng ta sẽ bỏ qua những họa sĩ giỏi nhưng thường không có nhiều cảm hứng này, dù sao ở tính cách riêng của mình họ cũng đem lại một sự đóng góp nào đó.

    Phong cách bảo thủ của đời Thanh, dựa trên truyền thống của Dong Qichang và trường phái của ông ta; được tiêu biểu ở những tác phẩm của 4 người họ Wang (Vương): Wang Shimin (Vương Thế Mẫn) (1592 - 1680), Wang Jian (Vương Kiến) (1598 - 1677), Wang Hui (Vương Huê) (1632 - 1717), và Wang Yuanqi (Vương Nguyên Tề) (1642 - 1715). Họ được liệt kê theo năm sinh. Wang Shimin lớn tuổi nhất và cũng theo đúng truyền thống nhất (h.657). Phong cách của ông phần lớn kết hợp với những kiểu cách cải biến của đời Nguyên thuộc thời kỳ Bắc Tống. Với khoảng không gian đồ sộ, phóng túng và nét bút là sự đóng góp độc đáo của vị thầy của ông, Dong Qichang, 50 hoặc 60 năm trước đó. Những bố cục của ông có khuynh hướng truyền thống nhưng không gây cảm hứng lắm. Chúng thường mang vẻ cứng cáp, dày đặc và thường hết sức phức tạp, với sự lặp lại cây cỏ, đá, núi trong một bố cục tương tự với những tiết tấu. Việc sử dụng nét bút của Wang Shimin, và khuôn mẫu trang trí của ông trên toàn bộ bề mặt bức tranh, là chính xác và không thay đổi; có lẽ điều này gợi nhớ đến một bậc thầy đời Nguyên, Huang Gongwang. Có thể Wang Shimin rất quan trọng đối với những bậc tiền bối và hậu bối hơn là với chính bản thân ông, vừa là học trò của Dong Qichang vừa là người thầy tinh thần và thực tiễn của ba người họ Wang khác.

    [​IMG]

    657. Làng vùng núi vào Hạ. Của Wang Shimin (1592 - 1680). Niên đại tính đến năm 1659. Tranh cuộn treo tường mực trên giấy cao 125,7 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bộ sưu tập của Ông bà A. Dean Perry, Cleveland.

    ít nhất trong những bố cục của mình, Wang Jian (Vương Kiến) là một họa sĩ đầy thú vị và độc đáo hơn. Những tiết tấu nhịp nhàng chi phối toàn bộ những tranh phong cảnh của ông ta thậm chí hơn của Wang Shimin ở sự lặp lại và tương đối phức tạp nhưng cũng trang nhã và lịch sự. Khi được người ta so sánh với những tác phẩm của Wang Shimin, thì tác phẩm của Wang Jian

    [​IMG]

    658. Mười ngàn dặm sông Dương Tử. Của Wang Hui (1632 - 1717). Một phần tranh cuộn cầm tay; mực và màu nhạt trên giấy; dài 16,2 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bộ sưu tập H.C.Weng. New Hampshire.

    mang vẻ trữ tình hơn với một điều gì đó đáng yêu, nét đặc trưng của những tranh họa phong cảnh trùng điệp của những trường phái ban đầu của Nhật Bản. Trong tác phẩm của người họa sĩ này, người ta ít khi tìm thấy một bố cục đồ sộ của một phạm vi to lớn hoặc nét bút mạnh mẽ, mà thay vào đó là sự sử dụng một nét bút trang nhã và không thay đổi ở những bố cục bị chi phối bởi những tiết tấu nhẹ nhàng và đôi khi có màu sắc trang trí tinh xảo.

    Wang Hui (Vương Huê), người thuộc thế kỷ nối tiếp, có lẽ là người nổi tiếng nhất trong nhóm. Hồi sinh tiền, ông là người họa sĩ tài hoa nhất ở Trung Hoa, một bậc thầy sáng tác nhiều, những tác phẩm của ông còn lại với số lượng đáng kể. Phong cách của Wang Hui, cơ bản dựa trên nét bút thiên phú, và có nhiều khác lạ so với hai người họ Wang lớn tuổi hơn. Từ lúc ban đầu, giống như thiên tài Durer và Leonardo, ông ta dường như có thể vẽ bất cứ điều gì ông muốn với ngọn bút lông. Những tranh cuộn dài của ông (dài khoảng 16 m) giống như bức tranh trong bộ sưu tập của họ Weng, cho thấy nét bút thật phi thường không thay đồi của ông, được người ta nhận thấy trong tranh họa Trung Hoa (h.658). Vào năm 1691, Hoàng đế Kangxi (Khang Hy) giao cho Wang Hui nhiệm vụ vẽ về Chuyến Du hành Miền nam của triều đình, một chuyến đi dài 71 ngày đi qua tỉnh Giang Tô (Jiangsu) và Chiết Giang (Zhejiang) ngày nay. Tất cả có đến 12 tranh cuộn cầm tay, mỗi bức tranh dài khoảng hơn 7m, là một sự ghi chép bằng hình ảnh sâu sắc và phong phú nhất trong thời kỳ của chúng. Không có một họa sĩ đời Tống hoặc tác phẩm nào của những thời kỳ sau này xuất sắc hơn. Nếu thỉnh thoảng chúng có vẻ tẻ nhạt và ít truyền cảm hứng hơn những tác phẩm trước đó, điều này chỉ do bởi cuộc cách mạng của Dong Qicheng, hơn một thế kỷ, trở thành nền hội họa chính thống của Wang Hui. Những môn đệ của nhà cải cách táo bạo này hơi mang một ít tính hàn lâm. Những album tranh cuộn cầm tay, hoặc tranh cuộn treo tường được thực hiện bằng những chủ đề khác nhau của những người đi trước chắc chắn chi phối tác phẩm mô tả bằng hình ảnh của một họa sĩ bảo thủ. Có lẽ lý do chính về sự lơ là của người phương Tây cho tới gần đây, đối với những họa sĩ chính thống đời Thanh là sự thiếu đi tính sáng tạo của họ trong bố cục. Nhưng dưới con mắt của người Trung Hoa, nó là thứ yếu.

    Người cuối cùng và trẻ tuổi nhất trong những người họ Wang, và chắc chắn là người sáng tạo nhất, là Wang Yuanqi, ông cũng gần gũi với những họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân hơn những họa sĩ họ Wang khác.

    [​IMG]

    659. Phong cảnh theo phong cách màu của Ni Zan. Của Wang Yuanqi (1642 - 1715). Niên đại tính đến năm 1707. Tranh cuộn treo tường; mực và màu nhạt trên giấy; cao 80,3 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Các bức tranh của ông chứng tỏ sự hiểu biết về cốt lõi sự đổi mới của Dong Qichang không phải ở những ấn tượng hình ảnh đáng yêu thường được Wang Jian và Wang Hui tạo nên mà là ở sự sắp xếp đầy phóng túng những yếu tố thiên nhiên trong ngôn ngữ của nét bút và một cấu trúc hầu như mang tính hình ảnh trừu tượng. Do kết quả này, khi Wang Yuanqi vẽ một bức tranh theo phong cách của Ni Zan (h.659), thì nó ở trong sự tôn kính cái tinh thần của Ni Zan, đối với sự lạnh lùng và điềm nhiên của bậc thầy đời Nguyên. Phương pháp thực sự mà bức tranh này đạt được nhiều hơn cả sự chịu ảnh hưởng sáng tạo của Dong Qichang. Sự tương phản to lớn ở phạm vi giữa cây cỏ và nhà cửa, sự biến đổi những thân cây và tán lá nặng nề của chúng như là một sự cân bằng đối với bối cảnh núi và đảo nằm xa xa - những phần này được kết hợp tạo nên một bức tranh chứng tỏ chỉ là của Wang Yuanqi, trong khi gợi nhớ đến Ni Zan. Ở trong ý nghĩa này, ông ta là một người theo chủ nghĩa cá nhân: trong tác phẩm của ông, người ta có thể nhận ra tính cách và sự vượt trội của ông hơn hẳn những người trong nhóm. Nét bút vẽ của ông thật táo bạo, và đặc biệt ở tranh phong cảnh xa xa ông ta thiên về địa thế nghiêng và những sự thay đổi. Điều này gây sửng sốt nếu một ai đó nhìn vào bức tranh từ một quan điểm trình bày thuần túy, nhưng lại gây ấn tượng sâu sắc bằng sự tạo nên một cảm xúc

    [​IMG]

    660. Tranh phong cảnh. Của Wu Li (1632 - 1718). Tranh cuộn treo tường: mực trên giấy; cao 65,5 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình, Bắc Kinh.

    mãnh liệt sống động. Do bởi lý do này mà tranh họa của ông đã từng được sánh với tranh màu nước của Cézanne, và sự so sánh đó là đúng và sáng suốt. Khi nhìn chúng cạnh bên nhau, người ta có thể cảm nhận được mối liên hệ giữa những mục đích của họ, mặc dù Cézanne có sẵn phương tiện màu sắc để sử dụng hơn là những hệ thống màu đơn giản chẳng hạn như màu vàng rực, màu lục, và màu xanh của bậc thầy Trung Hoa.

    Theo truyền thống, một trường phái được kết hợp với nhóm bốn người họ Wang là trường phái Loudong (Lưu Đông), một số nhà họa sĩ này không thuộc chính thống mà cũng không hoàn toàn theo chủ nghĩa cá nhân. Hai người trong số này đặc biệt được người ta lưu ý đến. Một là Wu Li (Ngô Lý), người họa sĩ danh tiếng Trung Hoa duy nhất trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Lúc qua đời ông là một tu sĩ Dòng Tên (thuộc giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã), và do vậy ông là một trong số ít họa sĩ Trung Hoa được đồng hóa với trường phái chính thống của thời kỳ sau này lần đầu tiên được nghiên cứu và xuất bản thành sách có hiệu lực ở phương Tây. Wu Li, giống như bốn người họ Wang, sử dụng những khám phá của Dong Qichang, đặc biệt ở sự xây dựng những hậu nền đồ sộ của ông ta và ở những sự biến đổi của những rặng núi xa xa và những đỉnh núi của chúng, tạo nên những ấn tượng căng thẳng và dày đặc. Phong cảnh ở hình 660 đem lại một sự mô phỏng hài lòng và trung thực về những người đi trước gần gũi với ông và một sự tán thưởng nhẹ nhàng của những người xa cách nhiều hơn nữa. Nó cũng cho thấy khả năng của họ Wu khi xây dựng một bố cục đồ sộ; những lớp chồng lên nhau liên tục ở tiền cảnh dẫn đến một dãy núi thẳng đứng ở hậu cảnh, gợi lại một chút nào đó trong tâm hồn một số trong những bố cục của thời kỳ Bắc Tống. Ở phần chi tiết, nét bút của họ Wu ít lịch lãm hơn của Wang Hui nhưng hầu như là chính xác, một chút sắc bén hơn, và góc cạnh hơn, hầu như thể dùng dao chạm trổ. Nói chung nó là một tác phẩm chính thống, có mối liên hệ gần gũi với tranh họa của bốn người họ Wang hơn với bất cứ những người đi trước nào khác. Lẽ dĩ nhiên, tựa đề của nó thề hiện lý tưởng được tôn trọng vì có truyền thống lâu đời của hội họa Trung Hoa: một kiểu giải thích khác đầy sáng tạo của những truyền thống được tôn kính. Người họa sĩ thứ hai không thuộc chính thống mà cũng không phải là chủ nghĩa cá nhân là Yun Shouping (1633 - 1690). Xếp loại Yun là một họa sĩ vẽ hoa thì thật là sai lệch, bởi vì một số tranh phong cảnh của ông là những tác phẩm xinh đẹp, duyên dáng và trong sáng của nền hội họa Trung Hoa thuộc thời kỳ sau này. Nhưng khi là một họa sĩ vẽ hoa, ông là người rất nổi tiếng, và ở bức tranh trong Bảo tàng Cung Đình Quốc gia chúng ta có thể thấy - thậm chí ở trong một phiên bản đen trắng (h.661)- một điều gì đó mang phong cách ướt át của ông. Cây tre, ngay cả thân cây nằm phía bên phải, dường như được vẽ bằng một nét bút rất ướt át trơn tuột khắp bề mặt tờ giấy, không chỉ để lại một ấn tượng mờ ảo mà còn là một ấn tượng sắc bén, tương phản với nét bút khô khan của Wu Li và Wang Hui. Những sắc màu tinh tế ướt át được áp dụng tạo nên một ấn tượng như là của người Pháp và mang tính trang trí. Nhiều album nhỏ của họ Yun kết hợp những phong cảnh và các chủ đề về hoa. Tuy vậy, những bố cục phong cảnh của ông ta tương tự với bố cục của bốn người họ Wang và Wu Li và phần lớn dựa vào những họa sĩ cuối đời Minh; vì vậy ông ta thường được xếp vào nhóm chính thống chứ không phải thuộc những họa sĩ sáng tạo và độc đáo nhất của đời Thanh.

    Những nhân vật theo chủ nghĩa cá nhân là một mẫu người khác lạ. Nhiều người cảm thấy phẫn uất với triều đình và cảm thấy một bổn phận đạo đức nên họ từ quan và lui về chốn núi rừng hoặc những nơi ẩn cư của đạo Phật và đạo Lão, giống như những bậc thầy đời Nguyên, ở đây họ thực hành nghệ thuật của mình và đưa ra những lời lẽ phản đối những kẻ xâm chiếm. Một trong số những người này là Zhu Da (Chu Đại), ông thuộc dòng dõi hoàng gia đời Minh, và do vậy có lý do chính đáng để chống đối triều đình mới. Những người khác, giống như Kun-Can, là những nhà sư với một mối ác cảm mạnh mẽ đối với tầng lớp người Trung Hoa thế kỷ 17. Họ được kết hợp lại bằng một thái độ mang tính cách mạng trong mức độ nào đó của xã hội Trung Hoa và bởi sở thích chung của họ về hội họa. Ví dụ, Kun-Can, với một bức tranh nổi tiếng mô tả một nhà sư tham thiền trên một ngọn cây (h.662), một chủ đề truyền thống ở đây người họa sĩ đồng hóa với bản thân mình, đã viết lại câu như sau: “Vấn đề là bằng cách nào để người ta tìm thấy một sự an lạc trong thế giới khổ đau này. Quý vị hỏi tại sao tôi đến nơi đây tôi không thể nói được lý do. Tôi đang sống trên cao ở một ngọn cây và nhìn xuống phía bên dưới. Ở đây tôi có thể tránh xa mọi phiền toái giống như một con chim trong chiếc tổ của nó. Mọi người gọi tôi là một kẻ nguy hiểm, nhưng tôi trả lời: “Quý vị giống như những loài ma quỷ”.” Hoặc ở lời nói thẳng thắn đầy kinh ngạc, họa sĩ Yuan-Ji viết: “Tôi chính là tôi bởi vì tôi có một thân xác hiện hữu. Râu và lông mày của những người xưa không thể mọc trên mặt của tôi, cũng như phổi và ruột gan của họ nằm trong cơ thể của tôi. Tôi trút hết mọi thứ trong người của tôi ra bằng ruột gan của tôi và bộc lộ mọi điều bằng râu tóc và lông mày của tôi. Mặc dù đôi lúc tranh họa của tôi có thể tình cờ giống thế này thế nọ, chính ông ta là người giống tôi; và không phải tôi chủ tâm bắt chước phong cách của ông ta. Nó đương nhiên là vậy. Thực tế là tôi chưa từng học hỏi từ những bậc thầy quá khứ và chưa từng được họ truyền thụ!”.

    Những cảm nghĩ như thế chưa từng nghe nói đến trước đây, có thể có những họa sĩ đời Minh nào đó tự mãn về những sự cải biên của họ đối với những tác phẩm của những họa sĩ đi trước, nhưng chưa bao giờ được biểu lộ quyết liệt như vậy. Nếu như những người theo chủ nghĩa cá nhân tự nhận vu vơ, như thế chắc hẳn sẽ không có điều gì để nói đến. Nhưng những tranh họa của họ đã chứng minh cho sự kiêu hãnh và vị trí đổi mới của họ trong lịch sử mỹ thuật. Mặc dù những cuộc đổi mới xã hội mang tính thẩm mỹ ở một mức độ nào đó, nhưng họ không lẻ loi như người ta có thể suy tưởng. Ví dụ Wang Hui, ông là người đã vẽ cho hoàng đế và được xem là bậc thầy đứng đầu của trường phái chính thống; đã gọi Yuan-Ji là họa sĩ tài danh nhất ở vùng phía nam Dương Tử (Yangzi). Tranh họa

    [​IMG]

    661. Tre và cây cổ thụ. Của Yun Shouping (1633 - 1690). Tranh cuộn treo tường; mực trên giấy; cao 101,6 cm. Trung Hoa, Đời Thanh. Bảo tàng Cung đình Quốc gia, Đài Bắc.

    Của họ được những người sành điệu đương thời sưu tập, và không giống những người đồng nghiệp đầu đời Minh, họ tứ giã cõi đời một cách bình thường như bao người khác. Nhưng điều này cũng đúng - và nhờ bởi sự may mắn của chúng ta - đó là những nhà sưu tập hoàng gia và chính thống đã không quan tâm đến những tác phẩm của họ, do đó người ta trông thấy chúng được bảo quản tốt hơn ở những bảo tàng phương Tây và

    [​IMG]

    662. Nhà sư tham thiền trên cây. Của Kun-Can (Shiqi; 1612 - 1673). Tranh cuộn treo tường; mực trên giấy. Trung Hoa. Đời Thanh. Không biết rõ địa điểm.

    trong các bộ sưu tập tư nhân hơn cả ở Trung Hoa hoặc Đài Loan.

    Zhu Da (1626 - 1705) cũng được người ta biết đến dưới biệt danh Bada Shanren. Tác phẩm của ông ít nhất bao gồm hai phong cách chính: phong cách thứ nhất vay mượn nhiều những nguyên tắc sâu sắc của Dong Qichang. Trong khi hầu hết những họa sĩ khác thường phỏng theo những khía cạnh dễ hiểu hơn của Dong Qichang, thì

    [​IMG]

    663. Tranh phong cảnh phỏng theo của Guo Zhongshu. Của Zhu Da (1626 - 1705). Tranh cuộn treo tướng; mực trên giấy; cao 109,9 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Zhu Da lại chuyển hóa phong cách của mình thoát ra khỏi nhiều sự đổi mới quá cực đoan của Dong Qichang. Phong cách này ông có khuynh hướng sử dụng hầu như thường xuyên ở tranh phong cảnh, như ở hình 663. Theo những dòng chữ viết của Zhu Da, bức họa dựa trên một bố cục của bậc thầy ở thế kỷ thứ mười, Guo Zhongshu, nhưng chưa có người nào nhầm lẫn nó với bức họa thế kỷ 10, không có dòng chữ viết, và cũng không nhận ra sự tham khảo của ông ta, điều này có thể áp dụng cho tính cách đồ sộ quanh co của dãy núi. Ở sự táo bạo, sống động của nét bút và góc độ độc đáo của cây cỏ làm tăng thêm tiết hợp giống như hình chữ chi của bức tranh. Thậm chí Zhu Da vượt trội hơn cả Dong Qichang. Sự xây dựng bức tranh bằng phương pháp của một loạt những nét bút thăm dò tìm kiếm những tính cách cuối cùng được người ta nhận ra đầy đủ và cô đọng rõ ràng là nét đặc trưng trong phong cách của Zhu Da. Ở những tranh phong cảnh này, người ta cảm thấy được cái tính cách nổi bật lên dưới nét bút; người ta tưởng tượng đến người họa sĩ sáng tạo nên một cảnh đẹp sống động. Đây là một sự phản bác trực tiếp một câu tục ngữ xưa thường được lặp lại mà tất cả những tranh họa Trung Hoa đầu tiên đã nghĩ đến và sau đó được ghi chép hoàn thiện, và không có sự sửa chữa từ hình ảnh trong tâm. Một số được vẽ lên như vậy, nhưng chắc chắn không phải đa phần như thế. Thật vậy, người ta có thể nghiên cứu những tác phẩm của hầu hết bất cứ họa sĩ nào và thấy được nơi nào đã được họa sĩ sửa chữa, thay đổi, bổ sung, hoặc ở một cách nào đó cho thấy một phương pháp suy nghĩ và làm việc có thể so sánh với những phương pháp đặc trưng của những họa sĩ phương Tây. Có một phong cách khác của Zhu Da, một phong cách rất đặc trưng ở nghệ thuật của ông ta và hầu như cuốn hút những nhà phê bình phương Tây. Nó là một phong cách cực kỳ giản lược, được cân nhắc và rồi vẽ ra, đầy nhanh chóng và thoải mái. Chúng ta thấy nó được biểu hiện ở trong tranh cuộn cầm tay ngắn Cá và Đá (h.664). Nó bắt đầu với một tảng đá nhô ra lơ lửng những hoa cúc, được thực hiện với một ngọn bút vẽ hơi khô khan bằng những nét to sinh động, kèm theo một bài thơ nói đến tảng đá nhô ra, màu sắc những đóa hoa cúc và những đám mây trên bầu trời. Tiếp theo là một phần ướt át hơn hoàn toàn không được vẽ sắc nét như phần trước đó, mô tả một tảng đá lạ kỳ và hai con cá nhỏ được chứng thực là cá chép trong dòng chữ viết, và sự thay đổi quan điểm của người thưởng ngoạn từ thế giới bên trên cho đến thế giới bên dưới, từ trên trời cao xuống dưới nước. Đặc biệt cá là nét đặc trưng trong tác phẩm của Zhu Da, với sự sinh động rất lạ kỳ của chúng, mắt của chúng nhìn lên tảng đá và bầu trời bên trên. Mối thiện cảm hóm hỉnh, nét đặc trưng của hầu hết những tranh họa chim, cá và thú vật của Zhu Da là khía cạnh dễ dàng mô phỏng nhất trong nghệ thuật của ông và kết quả là thường bị làm giả. Cuộn tranh kết thúc bằng một đoạn văn ướt át. Người ta đã trải qua tứ nét bút khô khan cho đến nét bút ướt át, từ những hình dáng rất sắc bén cho đến dịu dàng và không rõ nét, giống những hình dáng của hoa sen trong nước, nơi đây cá có thể vượt ra khỏi thế giới của chúng. Bài thơ thứ ba ám chỉ đến hoa sen là biểu tượng của đạo Phật và một nơi trú ẩn. Thơ ca của Zhu Da sâu sắc và khúc chiết như tranh họa của ông. Thơ ca, thư pháp và hội họa được hợp nhất bởi tính súc tích và sự mờ ảo nơi sự thể hiện.

    Một trong những người theo chủ nghĩa cá nhân tuyệt vời khác, một họa sĩ và cũng là nhà sư Kun-Can (cũng được gọi là Shiqi), là một họa sĩ phức tạp hơn Zhu Da nhưng bị giới hạn trong phong thái của mình. Về sự hấp dẫn và tính uyên thâm, ông ta tương bằng với những họa sĩ khác cùng thời kỳ với mình. Hình 665, mô tả Chùa Bảo An (Bao’en) cho thấy nét xuất sắc nhất ở phong cách của ông. Sau Yuan-Ji, ông là một họa sĩ sử dụng màu ấn tượng nhất trong bốn người theo chủ nghĩa cá nhân, với những màu cam ấm áp nâng cao kết cấu chặt chẽ giống như dây thừng buộc với nhau được tạo nên bởi sự đan kết đa dạng ở những nét bút. Nét bút của ông thoăn thoắt và rập rờn, tạo nên một phong cách súc tích hơn và nhịp nhàng hơn của họa sĩ Wang Meng đời Nguyên. Tương phản với tính thô thiển rõ ràng và cứng nhắc của họ Wang, Kun-Can thể hiện một tính cách trang nhã tuyệt vời hơn, và một điều gì đó của sự việc này có thể thấy được ở hình dáng của những đám mây, ở những tảng đá và cây cỏ, và ngay cả ở sự trình bày đầy thuyết phục nơi mái tranh của ngôi nhà nhỏ đơn sơ. Tác phẩm của Kun-Can rất hiếm hoi so với những tác phẩm của những họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân khác, và tác phẩm đẹp nhất của ông hầu như không tồn tại ở phương Tây.

    Yuan-Ji (lúc trước tên của ông được đọc là Dao-Ji; 1641 - 1707), theo sự nhất trí của mọi người, ông là người hay thay đổi nhất trong bốn họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân này. Cách dùng màu của ông mang tính cách đổi mới - phong phú hơn, sâu sắc hơn, và gần gũi hơn đối với cách sử dụng màu nước của phương Tây so với bất cứ họa sĩ Trung Hoa nào cùng thời kỳ của ông hay trước đó. Ông say mê việc sử dụng một nét bút cực kỳ táo bạo đối với những màu sắc nhạt đặt liền kề bên nhau, đôi khi tạo nên một ấn tượng vững chắc và cân xứng không giống như ấn tượng đạt được ở kỹ thuật màu nước của phương Tây.

    Ông cũng có khả năng tạo nên sự tinh xảo và tỉ mỉ tuyệt bậc. Trong lĩnh vực bố cục, ông cũng là một nhà cải cách, bởi vì ông sáng tạo mỗi bức tranh với một thế giới mới lạ và độc đáo, và thường thay mới từng bố cục ở tranh họa Trung Hoa theo như lời ông đã phát biểu.

    Một tờ tranh nhỏ từ một album nhỏ ở Sen’oku Hakkokan đem lại một ý tưởng nào đó về phong cách tỉ mỉ, về nét bút tinh xảo, và cùng một lúc với bố cục độc đáo, mới lạ và táo bạo của ông (h.666). Hai nhân vật đưa vào một cảnh nằm phía dưới góc bên phải - một nhà hiền triết già có râu quai nón và một tiểu đồng - cả hai bị một màn sương phủ tứ hông trở xuống, họ đứng ở dưới một vách đá to lớn cheo leo có nhiều cỏ kết tua và chân vách đá cũng bị sương mù che phủ, cùng với một thác nước giống như những dải ruy băng chảy song song

    [​IMG]

    664. Cá và Đá. Của Zhu Da (1626 - 1705). Một phần của tranh cuộn cầm tay; mực trên giấy; cao 29.2 cm. dài 157,5 cm. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    665. Bảo An Tự (Bao’en Si). Của Kun-Can (Shiqi; 1612 - 1673). Niên đại tính đến năm 1664. Tranh cuộn treo tường. mực và màu trên giấy; cao 133,4 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Sen’oku Hakkokan, Kyoto.

    trên những tảng đá. Những dòng chữ viết được kết hợp trong tấm tranh nhỏ cho thấy mối liên quan đến chủ đề của Lão giáo (Đạo gia), sự sắp xếp của những hình ảnh này thật phóng túng, tuy vậy mạch lạc và thành công. Những nét bút nhỏ, duyên dáng chính xác tạo nên những chiếc lá trên những bụi cây ở bên trái của vách đá tương phản với những nét dài uốn éo tạo nên những lớp đá của vách đá. Những dây leo và cỏ bò khiến chúng ta cảm thấy giống như râu của ông lão và tóc của tiểu đồng. Tất cả đều cho thấy một sự suy nghĩ táo bạo, hướng đến sự hiểu biết sâu sắc bằng mắt. Giống như nhiều người trong số những họa sĩ này, Yuan-Ji đi nhiều nơi và đặc biệt thỏa thích nhìn ngắm phong cảnh, chủ yếu núi Hoàng Sơn ở tỉnh An Huy, dãy núi Đài Sơn ở Sơn Tây, và khu vực sông Tiêu và sông Tương ở Hồ Nam. Những bức tranh ở trong một ý tưởng hồi ức về chuyến đi tạo nên một nhóm tranh họa Trung Hoa dưới đây nói chung và đặc biệt tranh họa đời Minh nói riêng. Mỗi bức tranh của Yuan-Ji, dù là tờ tranh album nhỏ hoặc tranh treo tường lớn, đều là một cuộc phiêu lưu mới

    [​IMG]

    666. Một tờ tranh trong tám cảnh quan của núi Hoàng Sơn. Của Yuan-Ji (Shitao; 1641 - 1707); mực và màu trên giấy: rộng 27 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Sen’oku Hakkokan, Kyoto.

    [​IMG]

    667. Một ngàn đỉnh núi và vô số khe núi. Của Gong Xian (k.1619 - 1689). Tranh cuộn treo tường; mực trên giấy, cao 61,9 cm, dài 101,9 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Rietberg, Zurich.

    lại ở nhiều phương diện ông ta có thể sánh với Dong Qichang như là nhân vật cải cách và độc đáo nhất của thế kỷ 16 và 17.

    Người thứ tư trong những người theo chủ nghĩa cá nhân quan trọng nhất là Gong Xian (k.1619 - 1689). Mặc dù trong phong cách bị giới hạn nhất, nhưng rõ ràng ông ta có tác động mạnh mẽ và ấn tượng nhất. Tác phẩm của ông được mô tả khác lạ là buồn thảm, ảm đạm và đầy bất trắc, một thế giới của ma quỷ cư ngụ, hoặc sự thể hiện của một thiên tài xuất sắc và vô cùng ấn tượng với tính khí u sầu và đam mê.

    [​IMG]

    668. Những nét thuần túy giữa đồi núi và sông nước. Của Xiao Yuncong (1596 - 1673). Niên đại tính đến năm 1644. Một phần của tranh cuộn cầm tay; mực và màu trên giấy; cao 30,8 cm, dài 7,8 m. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Khổ tranh đặc trưng của ông là tranh cuộn treo tường, có lẽ được vẽ bằng những màu đen phong phú nhất chưa bao giờ được thành công như thế này ở hội họa Trung Hoa, sự tô những màu xám buồn thảm tương phản với màu trắng sậm của những đám mây cùng với sương mù và đá; và tranh phong cảnh của ông, giống như của Ni Zan, là không có người (h.667). Thiên nhiên phô diễn tất cả những điều ông muốn nói; ngay cả những nơi cư trú và những con thuyền được thể hiện ở tính cách mong manh nhất và rất giản lược. Ông viết một bản luận án về hội họa phong cảnh chứa đựng một lời khuyên là tranh phong cảnh phải cùng một lúc mang tính “thuyết phục” và “gây sự sửng sốt”, nghĩa là phải thuyết phục con mắt và kích thích cái tâm. Trong nhiều bức họa của ông, người ta có thể nhận thấy rõ ràng những ảnh hưởng phương Tây trong việc xử lý ánh sáng và bóng tối. Gong Xian tiến hành sự khảo sát những khả năng của bóng tối và ánh sáng mà chưa có ai trong lịch sử hội họa Trung Hoa thực hiện.

    Những người theo chủ nghĩa cá nhân thuộc thế kỷ 17 lên đến con số đáng kể. Điển hình là một nhóm được kết hợp với tỉnh An Huy, ở miền nam Trung Hoa, dãy Núi Vàng (Hoàng Sơn) của nó là nét địa lý đặc trưng nổi tiếng. Những tranh họa về Hoàng Sơn được mọi người biết đến kể từ đời Tống và ở trong những phạm vi kỳ lạ và phóng túng này bốn họa sĩ đầu tiên đã tìm được nguồn cảm hứng. Thành viên lớn tuổi hơn hết trong nhóm này là Xiao Yuncong (Tiểu vân Công) (1596 - 1673), không chỉ quan trọng về tranh mà ông còn có những sách minh họa. Họ Xiao thiết kế nhiều hình in bằng bản khắc gỗ minh họa một trong những bài viết phổ biến nhất về kỹ thuật hội họa Trung Hoa. Những bản in khắc gỗ từ cuốn sách này được sưu tập ở Nhật cũng như ở Trung Hoa gây ảnh hưởng tới nhiều họa sĩ thuộc giới nho sĩ ở cả hai quốc gia.

    Họ Xiao cũng nổi tiếng về ảnh hưởng đối với những người đương thời trẻ tuổi hơn ở tỉnh An Huy. Phong cách của ông được thể hiện trong tác phẩm mang tên Những nét đẹp tĩnh khiết giữa vùng đồi núi và sông nước, niên đại tính đến năm 1644, cho thấy sự vay mượn của ông ở bậc thầy đời Nguyên, Huang Gongwang (Hoàng Công Vương) (h.668). Đây là một tranh cuộn cầm tay dài kết thúc với một bến cảng nằm ở giữa những đám sương mù, tiếp theo là một cảnh cuối cùng của một chiếc hang có một nhà sư và một đệ tử của ông ta. Một chi tiết cho thấy một phương tiện điển hình của bố cục, với nhiều vùng đất cao và một tiết tấu đặc biệt sinh động dựa trên sự sắp xếp kề nhau cẩn thận của một vòng cung và một góc đối. Tiết tấu thường xuyên được lặp lại và hơi biến đổi này tạo thành một phong cách đặc trưng, độc đáo của họ Xiao. Hệ thống màu của ông một phần cũng xuất phát từ Huang Gongwang. Sự sử dụng màu xanh cây oải hương và màu hồng là tương tự với bảng màu được Huang Gongwang dùng, mà tác phẩm duy nhất còn lại được ông ta sử dụng màu.

    [​IMG]

    669. Mùa thu đến. Của Hong-Ren (1610 - 1664). Tranh cuộn treo tường mực trên giấy; cao 121,9 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Hàn lâm viện Nghệ thuật Honolulu.

    Họ Xiao hơi lớn tuổi hơn người thứ hai trong những Bậc thầy An Huy, họa sĩ vừa là nhà sư Hong-Ren (Hồng Nhân) (1610 - 1664) người đã theo học họ Xiao. Phong cách của Hong-Ren hoàn toàn khác biệt nhưng cho thấy rõ ràng nguồn gốc của nó có liên quan đến những tác phẩm của Ni Zan. Phong cách Hong-Ren thậm chí lạnh lùng hơn và giản lược hơn: mộc mạc, cô đọng, lạnh lẽo, và đặc biệt được thể hiện tinh xảo bởi nét bút cực kỳ nhạy cảm. Khi xem xét một hoặc hai bức tranh, cho thấy ông ta cũng học hỏi từ Xiao Yuncong, cũng như sự lặp lại nhịp nhàng trên tranh cuộn treo tường lớn của hình 669. Những bức tranh khác của họ Xiao, dường như lần lượt cho thấy ảnh hưởng của người học trò mình. Phong cách của Hong-Ren, được giới hạn và chuyên biệt theo như bản thân nó, cho thấy bằng cách nào mà phong cách của một trong bốn Bậc Thầy của đời Nguyên vẫn có thể dùng như chủ đề gốc đối với một sự thay đổi mang tính sáng tạo.

    Bậc thầy thứ ba trong nhóm An Huy, Zha Shibiao (Trà Thạch Biên) (1615 - 1698), là một cá tính khác lạ. Họ Zha dường như có tính khoan dung, và vui tính hơn, một họa sĩ gặp ít vấn đề hoặc những sự cản trở đối với những người thưởng lãm hội họa. Những bức tranh của ông có vẻ thoải mái và dễ chịu, như thể chúng được thực hiện nhanh chóng và vui tươi, không có ý tưởng về những hàm ý triết lý sâu xa. Một trong những tuyệt tác trong album của ông, có 12 cảnh vật, chúng hầu như đều tô màu, mô tả một chủ đề yêu thích ở đời Thanh, những đổi thay ở những phong cách của các bậc thầy trước đó, nhưng được làm hết sức rõ nghĩa vì vậy chúng trở thành những tác phẩm mới lạ và đầy sáng tạo. Một trong những tác phẩm này, có nghệ thuật tô màu rất độc đáo, là hình ảnh của mùa xuân không có bất cứ sự vay mượn nào từ những bậc thầy danh họa của quá khứ (h.670). Màu xanh lục và màu cam, được kèm với màu mực đen, tạo cho bức tranh rực rỡ, và được kết hợp với những màu xanh nhạt nhẹ nhàng ở cỏ cây tạo nên một ấn tượng màu sắc không giống màu sắc của Yuan-Ji, danh họa theo chủ nghĩa cá nhân. Vào thời kỳ này, màu sắc trở thành một phương tiện xây dựng lên hình ảnh và những người theo chủ nghĩa cá nhân thế kỷ 17, hoặc bốn bậc thầy danh họa hoặc những nhân vật thứ yếu chẳng hạn như nhóm An Huy, đặc biệt đầy sáng tạo ở cách sử dụng của nó.

    Người cuối cùng của nhóm An Huy, Mei Qing (Mỹ Thanh) (1623 - 1697) có lẽ có phong cách chủ nghĩa cá nhân nhất trong nhóm, và dường như giống Zha Shibiao, có một tinh thần khá thanh thản. Ông sắp xếp những yếu tố hình ảnh biến đổi, chúng là những dãy núi được thể hiện ở những nét bút đường viền răng cưa vỏ sò rời rạc hoặc cây xanh và rừng rậm trông giống như những bông hoa to lớn mang tính trang trí lạ thường (h.671). Giống như Giao Yuncong, họ Mei dùng những họa tiết lặp lại, nhưng tạo cho chúng những ấn tượng như sóng cuộn, cầu kỳ.

    Vào thế kỷ 18, người ta đã chứng kiến sự nối tiếp truyền thống chủ nghĩa cá nhân trong tác phẩm của nhiều họa sĩ. Một trong những nhân vật thú vị nhất của truyền thống này là Hua Yan (Hoa Yên), nổi tiếng không chỉ về tranh phong cảnh mà còn ở những tranh họa thú vật, chim muông trong một phong cách mang tính trang trí mở rộng, mới lạ. Một trong những tuyệt tác của ông là tranh cuộn treo tường có tên Đàm đạo trong mùa Thu (h.672), một tranh minh họa về một tác phẩm văn xuôi nổi tiếng đời Tống của Quyang Xiu (1007 - 1072). Tác giả suy tưởng về sự mượt mà lạ kỳ của những chiếc lá mùa thu xào xạc, và dòng suối chảy róc rách. Hua Yan dường như đã đạt được những nét đặc sắc này, trong một tác phẩm nổi tiếng ở Trung Hoa kể từ khi nó được vẽ lên. Ngọn núi cao hầu như không thể vẽ được - giống như những ngọn núi được nhận ra ở trong tác phẩm của họa sĩ Mei Qing trong nhóm An Huy - dường như vượt cao đến tận bầu trời, như thể nó là một chất dẻo thay vì đá và đất. Phần bên dưới của bức tranh kết hợp với những tảng đá uốn lượn bổ sung thêm túp lều của người hàn sĩ bằng sự xử lý những tán lá và tre. Những chiếc lá rơi rụng lìa cành như người ta thường liên tưởng đến màu thu, có một nét duyên dáng du dương như một bài ca, cùng một lúc gợi lên tiết tấu của một giai điệu trầm bổng và dáng vẻ nổi bật của nó trên giấy. Những họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân khác trở thành những nhà sư trong truyền thống họa sĩ - tu sĩ Trung Hoa. Hai trong những người này là Jin Nong (1687 - 1763) và Luo Ping (1733 - 1799), họ là thầy và trò và những phong cách của họ đều giống nhau. Truyền thống Trung Hoa cho rằng Jin Nong không phải là một họa sĩ giỏi và vì thế nhiều bức tranh được ký tên bằng nét đặc trưng theo nghệ thuật viết chữ đẹp hơi có hình vuông thực tế do Luo Ping vẽ. Phong cách kỳ lạ của hai bậc thầy này quay trở lại với truyền thống hội họa phong cảnh cải biến - một lối chơi chữ bằng thị giác - người ta đã nhìn thấy trong Vườn Sử tử của Ni Zan. Trong tranh họa của Luo Ping (h.673), một chủ đề Thiền Phật giáo được thể hiện trong một phong cách xuất phát tứ những bậc thầy cuối đời Bắc Tống được kết hợp mạnh mẽ với Thiền chẳng hạn như Mu Qi và Liang Kai. Tuy vậy, sự diễn tả cô đọng không gò bó của toàn bộ tác phẩm là ở tính cách thuộc chủ nghĩa cá nhân thế kỷ 18 - một bản sao chép được khắc chạm trên một bia đá ở Tô Châu năm 1765.

    Jin Nong và Luo Ping có lẽ là những người theo chủ nghĩa cá nhân nổi tiếng cuối cùng của đời Thanh. Kể tứ năm 1800, tranh họa Trung Hoa trở nên nhàm chán khuôn sáo, mặc dù tác phẩm thú vị đôi lúc có xuất hiện trở lại. Những nỗ lực hiện đại trong phong cách “chủ nghĩa cá nhân” truyền thống đang được người ta ưa thích nghiên cứu. Nhưng những nỗ lực nhằm đưa “chủ nghĩa hiện thực của những người ủng hộ” vào hội họa đương đại chỉ tạo nên những sự ngớ ngẩn nhàm chán có thể sánh với nền nghệ thuật được phê chuẩn của Đức Quốc Xã. Những họa sĩ đầy năng lực và đôi lúc là thiên tài vẽ hoa và chim muông, một thể loại được Hoàng đế Càn Long rất yêu thích, cũng được trưng bày trong Bảo tàng Cung Đình Quốc gia. Những bức tranh phong cảnh xuất sắc ở truyền thống chính thống, xuất phát từ nhóm họ Wang thế kỷ 17, cũng được vẽ. Nhưng những họa sĩ này không giúp ích cho một cuộc tổng điều tra trong lĩnh vực này. Tuy vậy, một họa sĩ cần được đề cập đến như là một biểu tượng của ảnh hưởng phương Tây thuộc thế kỷ 18, ở Trung Hoa, họa sĩ - tu sĩ Thiên Chúa giáo Giuseppe

    [​IMG]

    670. Mùa xuân, trích từ album phong cảnh với những phong cảnh khác nhau. Của Zha Shibiao (1615 - 1698). Niên đại tính đến năm 1648. Album, mực, hoặc mực và màu trên giấy cao 29,8 cm, rộng 39,4 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    671. Một tấm tranh phong cảnh phỏng theo nhiều phong cách của những Bậc thầy ngày xưa. Của Mei Qing (1623 - 1697). Niên đại tính đến năm 1690. Album, mực, hoặc mực và màu trên giấy; cao 28,6 cm, rộng 44,1 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Castiglione, được người Trung Hoa gọi là Lang Shi'ning. Castiglione, một sứ giả của Triều đình Trung Hoa, đã đem về những kỹ thuật hội họa của người ý, học hỏi được ở Genoa. Ông ta trở thành một người được triều đình Trung Hoa yêu chuộng, đã vẽ nhiều bức tranh cho những hoàng đế cũng như đặt ảnh hưởng lên sự trang trí đồ gốm sứ. Có một số những cuộn tranh pha trộn tính cách phương Tây và Trung Hoa; một ít là hoàn toàn Trung Hoa. Tranh cuộn cầm tay ở Bảo tàng Cung Đình Quốc gia,

    [​IMG]

    672. Đàm đạo trong mùa Thu. Của Hua Yan (1682 - 1756). Niên đại tính đến năm 1732. Tranh cuộn treo tường; mực và màu trên giấy; cao 115,3 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    673. Han Shan và Shi De. Của Luo Ping (1733 - 1799). Tranh cuộn treo tường; mực và màu nhạt trên giấy; cao 78,4 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Mỹ thuật Nelson-Atkins, thành phố Kansas.

    dài tứ 5m đến 7m và mô tả hàng tnăm con ngựa, một đề tài quay trở lại đời Đường, đặc trưng kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực phương Tây ở sắc thái mô phỏng những con ngựa với những quy ước Trung Hoa ở tranh họa cây cỏ và núi non (h.674). Tuy vậy, hai tính cách này chưa kết hợp thành công. Những tác phẩm của Castiglione xinh đẹp, màu sắc lòe loẹt và kỳ lạ, nhưng chúng không được xem trọng như là những tác phẩm hoàn toàn ở phong cách ý hoặc Trung Hoa. Sự pha trộn hai phong cách tương phản với phong cách

    [​IMG]

    674. Một tnăm con ngựa trên Đồng Cỏ. Của Lang Shi'ning (Giuseppe Castiglione; người Ý, hoạt động ở Bắc Kinh (1715 - 1766). Một phần của tranh cuộn cầm tay; mực và màu trên lụa; cao 94,6 cm, dài 7,7 m. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình Quốc gia, Đài Bắc.

    cầu kỳ theo mô típ Trung Hoa ở châu Âu thế kỷ 1 8 (đặc biệt ở đồ gỗ, đồ gốm sứ và vải sợi) (chinoisene).

    Trung Hoa vào thế kỷ 19 trải qua đau thương vì cuộc dấy loạn Thái Bình Thiên Quốc (1850 - 1865) và bị sỉ nhục về chính trị và quân sự liên tục do các quốc gia phương Tây gây nên, không phải là cội nguồn của nền hội họa tuyệt vời. Nhưng sự khổ đau và những thảm họa thiên nhiên vẫn gợi lên những tác phẩm đáng trân trọng trong hai khuôn mẫu truyền thống phản ứng lại - sự phản ứng bằng cách rút lui sống biệt lập hoặc giận dữ chống lại. Zhang Yin (1761 - 1829) và Qian Du (1763 - 1844) là những bậc thầy tuyệt vời của phạm trù thứ nhất. Người được đề cập đầu tiên sáng tạo những

    [​IMG]

    675. Phong cảnh dược bổ sung cho tranh chân dung Xiangshan ngồi trong lúc ngắm những đám mây bay lên. Của Qian Du (1763 - 1844). Niên đại tính đến năm 1838. Tranh cuộn treo tường; mực và màu trên giấy; cao 172,5 cm, rộng 53,8 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình Bắc Kinh.

    [​IMG]

    676. Tranh tự họa. Của Ren Xiong (1820 - 1857). Tranh cuộn treo tường, mực và màu trên giấy; cao 177,5 cm. Trung Hoa. Đời Thanh. Bảo tàng Cung Đình, Bắc Kinh.

    tác phẩm có cung cách điềm tĩnh ít đồ sộ, người sau sáng tác những kiểu cách được giản lược và hết sức nhạy cảm thuộc ngày xưa được mở rộng hơn (h.675). Sự phản ứng giận dữ đem lại một hình thức mới lạ trong những tác phẩm của Ren Xiong (1820 - 1857), thậm chí như là một cuộc cách mạng, được biểu hiện bởi bức tranh chân dung tự họa của ông với cái nhìn thứ người và phiền muộn với một thái độ không nao núng (h.676). Ở bối cảnh hội họa Trung Hoa, bộ ngực để trần của họ Ren thể hiện tính cách mạnh mẽ và khác thường, trong lúc đó bộ y phục mang sự phẫn nộ đáng chú ý tương phản với thân hình bất động của ông.