Nghệ thuật tranh và Gốm sứ đời Đường 618-907

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi luat.ngo, 20/10/15, [ Mã Tin: 27424 ] [381 lượt xem - 0 bình luận]

  1. luat.ngo

    luat.ngo (19 )

    BAN QUẢN LÝ (6)

    Chất lượng tạo thương hiệu - Uy tín giữ thành công - Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    SĐT :
    0945621800
    Zalo :
    0932355523
    Địa Chỉ :
    Tân Hòa Đông, P.Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP.HCM
    Gửi tin nhắn

    Khi xem xét về sự phát triển hội họa, điêu khắc và những bộ môn nghệ thuật trang trí đời Đường, chúng ta phải nhớ lại những gì đã được nói về đời Đường (618 - 907) trong cuộc nghiên cứu của chúng ta về nền mỹ thuật Phật giáo triều đại này.


    Đời Đường Trung Quốc kéo dài đến 298 năm với đường lối cai trị tốt đẹp nhất trên thế giới, với sự mở rộng và dân số lớn lao nhất, hùng mạnh nhất, và chắc chắn phồn vinh nhất. Nền văn hóa cao đẹp rực rỡ của nó làđiều ghen tị và khuôn mẫu cho các nước lân bang. Vào đầu thế kỷ thứ tám là thời điểm mở rộng nhất của nó, đế chế trải rộng từ biền Caspian đến biển Trung Quốc và từ Cao Ly đến xứ Annam, nền mậu dịch thăng hoa, đặc biệt với vùng Trung Đông. Những chất xúc tác của cơ cấu xã hội này là - nghề in, sự biết đọc, biết viết, và hệ thống thi cử dân sự - đạt được tiến bộ lớn lao hướng đến vị thế trung tâm và mối tương quan qua lại rồi sau đó chúng nắm giữ toànbộ nền văn minh Trung Quốc. Nhiệm vụ đầu tiên của triều đại mới là thay thế nền chính trị không kiên định và quyền lực bị phân tán vốn là nét đặc trưng của thời kỳ Lục Triều bằng trật tự dưới quyền lực tập trung, và sự kiện này đã được hoàn thiện trong những năm đầu tiên của chế độ. Những điều kiện kết hợp này tạo nên một môi trường đặc biệt phong phú cho sự pháttriển nhanh chóng của nền văn học và những ngành mỹ thuật. Nhà Đường Trung Quốc thuộc chủ nghĩa thế giới và khoan dung, mở ra những tư tưởng mới và hăm hở kết mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Nó hoan hỉ chào đón bảy tôn giáo được người ta biết đến trên thế giới: Phật giáo, Ấn giáo (Hindu), Hồi giáo, Cơ Đốc giáo, Bái Hỏa giáo, Manichaeans và Do Thái giáo được tự do tuân theo những lễ nghi của họ, ngay cả thiết lập những cộng đồng ở kinh đô Trưởng An. Nền văn minh nhà Đường là một thành quả phi thường, mặc dù nó suy tàn dần sau thế kỷ thứ nhất với một nửa triều đại.

    Hội họa

    Trong những bộ môn nghệ thuật phong cách đời Đường, như người ta đã trông thấytrong nền điêu khắc Phật giáo, phản ánh quyền lực và sức mạnh của đế chế. Tác phẩm điêu khắc được làm cho cân xứng với ba chiều đầy đủ. Cùng một tầm hiểu biết rộng lớn đầy tự tin được nhận ra ở trong hội họa, người ta có thể nhận thấy rõ trong những khuynh hướng kỳ lạ, đồ sộ của Trương Thần Vân. Hơn cả điều này, lòng tự tin và tinh thần dễ lĩnh hội của thời đại này cho phép người họa sĩ quan sát thế giới với ít sự chỉ trích hơn về phong tục và truyềnthống. Chủ nghĩa hiện thực trong hội họa và điêu khắc đã được biểu lộ, đặc biệt ở trong những bản phác thảo chuẩn bị của những họa sĩ thường được chuyển trở thành những hình thức được lý tưởng hóa hơn đối với những tác phẩm hoàn thiện. Nhiều sự quan tâm chắc hẳn đã được dành cho những vấn đề hội họa, do bởi tác phẩm văn học có vai vế về chủ đề sử dụng những thuật ngữ đặc biệt và phân tích chính xác phong cách Trung Quốc cũng như phong cách ngoại lai, đặc biệt những kỹ thuật tô bóng màu được truyền bá từ vùng Trung Á sang.

    Người ta có thể nói rằng những khung hội họa theo thuật viết chữ đẹp, kể luôn những hình thức cực đoan “vấy mực tung tóe” bắt đầu vào thời kỳ này, nhưng có thể không chịu ảnh hưởng Thiền của Phật giáo, mặc dù Thiền được làm điển hình trong đời sống tôn giáo của triều đại.

    Nhà Đường có khả năng đem lại cho chúng ta những bức họa gốc hoặc những bản sao chép đương thời của chúng, ở những con số lớn hơn trước đó. Những khám phá gần đây gồm cả những tranh tường từ những lăng mộ lộng lẫy của hoàng gia đầu đời Đường, kể luôn những cảnh săn bắn ở những bố cục phong cảnh cơ bản không giống như những bố cục ởnhững tác phẩm Phật giáo (xem h.241), những bố cục mang tính kiến trúc trang trọng công phu và những sự sắp xếp điêu luyện hình ảnh những nữ chủ cung đình và những người hầu (h.379). Sự sắp xếp hoàn thiện những nhân vật này, và sự mô tả tinh tế bằng những Đường nét vững chắc, xác định bằng chứng thiếu thốn những tác phẩm trên lụa hay giấy có thể mang đi tiện lợi mà nền hội họa hình tượng đời Đường đã phát triển cao vào ngay giai đoạn đầu. Tuy vậy, tất cả những tác phẩm này cho thấy thiếu đi mối quan tâm trong việc sắp xếp những nhân vật trong một bối cảnh vượt xa không gian nhỏ hẹp mà chúng chiếm giữ.

    Một trong những tuyệt tác nổi tiếng nhất của tất cả tranh vẽ người là Tranh cuộn vềnhững Hoàng đế, chắc chắn do Yan Liben vẽ (mất năm 673) vào những thập niên đầu của triều đại nhà Đường (h.380). Yan là một quan chức cao cấp và cũng là một họa sĩ cung đình hết sức quan trọng, cung cấp những bản vẽ kiến trúc, điêu khắc và tranh tường - nói tóm lại, đáp ứng tất cả những yêu cầu của người Trung Quốc về một họa sĩ được hâm mộ như một người hùng hay một nhân vật lý tưởng. Tranh cuộn về những Hoàng đê là một tác phẩm còn lưu lại, ở mặt nào đó được xem là của ông ta. Nó mô tả về 13 vị Hoàng đế cùng với những tùy tùng của họ. Phần thứ nhất của tranh cuộn, phần thường mang tính thiết yếu này hơi bị hư hỏng tồi tệ do bởi thường xuyên cuộn vào mở ra, là một bản sao chép thay thế cho sáu nhóm gốc đầu tiên, nhưng phần còn lại sau này của tranh cuộn có bảy nhóm hết sức xuất sắc. Nghệ thuật vẽ bằng bút lông của họ đặc biệt có những Đường nét vững chắc, bố cục và tư thế cân xứng củanhững nhân vật cho thấy xứng đáng vôi một bậc thầy tài hoa. Khổ bức họa, những phương pháp sắp xếp nhân vật, và lịch sử của cuộn tranh tứ đây cho thấy bằng chứng những dấu triện son của những nhà sưu tập ít nhất phải lùi về thế kỷ 12, tất cả được kết hợp lại để khẳng định sự xác thực của tác phẩm. Trong việc sử dụng mạnh mẽ về đường nét, tập hợp thành những nhóm riêng biệt của những chủ đề hợp nhất, và tính hoạt bát của những nhân vật phụ của tácphẩm thể hiện một mối liên hệ với những gì đã qua đi trước đó, đặc biệt đối với Cố Khải Chi, và Trương Thần Vân. Cùng một lúc, nó chứng tỏ một tinh thần mới mẻ hoàn toàn trong hội họa. Những nhân vật to lớn hơn, quần áo rộng lụng thụng và trầm tĩnh, mặc dù sự mô tả những khuôn mặt chủ yếu dựa vào nét vẽ, nhưng nó tạo nên sự gợi ý một khối và một số lượng hoàn toàn khác biệt với phong cách nhiều đường nét hơn của thời kỳ Lục Triều. Sự mô phỏng theo loại y phục gấp nếp, mang tính cách trang trí và lãng mạn theo phong cách hiệp sĩ ở bức tranh Những lời khuyên bảo, ở đây được người họa sĩ thực hiện có hệ thống hơn, sửdụng màu đỏ tô đậm, điều này cho thấy rõ ràng chịu ảnh hưởng vùng Trung Á và thậm chí hội họa Ấn Độ. Bố cục vẫn còn trừu

    [​IMG]

    379. Những người hầugái. Niên đạiđược tính đếnnăm 706. Tranhtường từ lăng mộHoàng tử Yongtai,dài 4,32 m. SơnTây, Trung Hoa.Đời Đường.

    [​IMG]

    380. Hoàng đế VănĐế đời Trần, từcuộn tranhnhững vị Hoàngđế. Được cho làYan Liben (chếtnăm 673). Mộtphần của tranhcuộn cầm tay;mực và màu trênlụa; cao 51,1 cm,dài khoảng 5,4 m.Đời Đường. Bảotàng Mỹ thuật, Boston,


    tượng với những nhân vật chỉ có mối quan hệ với môi trường gần gũi của họ. Phối cảnhmở rộng của chiếc bệ chính xác đối nghịch với cách được dùng ở hầu hết hội họa phương Tây, những sự mở rộng này được xử lý mang tính thuyết phục nhiều hơn ở tranh họa của Cố Khải Chi. Vị hoàng đế ở hình 380 là Trần Văn Đế; người họa sĩ trình bày ông ta đang ngồi thanh thản, trầm lặng thay vì đứng ở một tư thế uy nghi. Bộ y phục mùa hè bằng loại vải mềm mịn góp phần tạo cho hình ảnh một sự suy yếu hơn là một nhân vật năng động. Nét đặc điểm này là một phần của xu thế hướng đến hình thức

    [​IMG]

    381. Ngựa Saluzi củaĐường Thái Tông,cùng với tướng QiuXinggong đang rútmũi tên khỏi ngựcông ta. Yan Liben vẽkiểu (chết năm 673).Đá, cao 172.7 cm.Lăng mộ của Hoàngđế (Zhao Ling), SơnTây. Trung Hoa. Đời Đường năm 636-649.Bảo tàng Đại học,Đại họcPennsylvania.Philadelphia.



    miêu tả chân dung mang tính hiện thực độc đáo ở đời Đường. Những quy ước cho lối vẽ một cái tai và một cái miệng - và chúng là những lệ thường được dựa trên dáng vẻ thật đi đến một trình độ cao hơn so với những bức họa của những thời kỳ trước.

    Cuộn tranh về những Hoàng đế tuân theo cùng một hệ thống màu đơn giản được CốKhải Chi sử dụng, đặc biệt nó dường như thích hợp với chủ đề ca tụng và mô phạm: những tiếng tăm của các hoàng đế trong quá khứ cung cấp những bài học đạo đức Khổng giáo cho ngày nay. Sự giản dị đúng mực về những màu sắc, màu đỏ nổi trội, màu trắng mịn và màu đen, và đôi lúc có những vệt màu xanh hoặc màu lục nhạt, tạo nên một ấn tượng mộc mạc tuyệt vời. Những vị hoàng đế “cường tráng” được thể hiện ở tư thế đứng, hình ảnh của họ chiếm trọn chiều cao của khung lụa. Quy mô lớn, màu sắc đúng mực, và mạnh mẽ nhưng nét vẽ đơn giản kết hợp với nhau tạo nên một ấn tượng mạch lạc, hài hòa và đồ sộ khiến cho bức tranh cuộn này là một bức họa tuyệt vời nhất và quan trọng nhất trong những bức họa hiện có của người Trung Quốc. Họa sĩ Yan cũng được giao nhiệm vụ vẽ kiểu công trình điêu khắc và sự kết hợp về chủ nghĩa hiện thực với tính cách đồ sộ phi thường được thể hiện ở sáu tác phẩm điêu khắc nổi có kích cỡ bằng người thật về những con ngựa yêu quý của Hoàng đế Thái Tông, đời Đường. Hai trong những tác phẩm này ở Bảo tàng Đại học, ở Philadelphia (h.381); bốn tác phẩm còn lại ở Tây An, Trung Quốc, chúng được chạm trổ không xa địa điểm lăng mộ của hoàng đế.

    Yan Liben có ảnh hưởng lớn đối vớinền mỹ thuật Trung Quốc thuộc thế kỷ thứ 7,nhưng tên tuổi lớn nhất của đời Đường, nếu không nói là một tên tuổi lớn nhất của nền hội họa Trung Quốc, đó là một bậc thầy ở thế kỷ thứ tám, Wu Daozi (hoạt động năm 720 - 760). Wu Daozi được tán dương trong lúc còn đương thời, ông được người ta ca tụng là họa sĩ tài hoa nhất trong tất cả những họa sĩ vẽ nhân vật và hình ảnh thu nhỏ lại của họa sĩ thần thánh - và tuy thế chúng ta chẳng có điều gì thậm chí một chút gần gũi với bàn tay ông ta. Chúng ta biết rằng theo cơ bản, ông ta là một họa sĩ vẽ nhân vật, những chủ đề Lão giáo và Phật giáo là sảnphẩm đặc biệt của ông ta khiến ông ta có thể sáng tạo một vẻ mạnh mẽ đặc biệt và hoạt động, căng thẳng trong hình ảnh các nhân vật và những sự sắp xếp. Người ta kể

    [​IMG]

    382. Tám mươi bảy vị bất tử (tiên). Thế kỷ 14 (?) bản sao chép theo Wu Zongyuan (chết năm 1050). Chi tiếtcủa tranh cuộn cầm tay; mực và màu trên lụa, cao khoảng 40,6 cm, dài 6m. Trung Hoa. Bộ sưu tập củaC.C. Wang, New York.

    rằng khi Wu Daozi hoàn thành bức tranh tưởng cuối cùng của mình, bèn mở cửa tới một trong những hang động được sơn vẽ, bước vào, rồi biến mất. Những huyền thoại như thế về những họa sĩ bậc thầy Trung Quốc đã trở nên rập khuôn, nhưng điều này thật sự muốn gợi lên một điều gì đó về sự tác động kỳ bí ở những bức họa của Wu. Người ta nói rằng ông ta đã đưa vào một trong những yếu tố đầy sức tưởng tượng của nền hội họa Trung Hoa, mặc dù một trong những vinh quang tuyệt vời nhất của nó - nghệ thuật vẽ bằng bút lông theo thuật viết chữđẹp đã được phát triển. Người ta đòi gán cho ông ta là người làm rạng danh trong việc sáng tạo đường nét đầy biến đổi khác nhau để diễn tả sự chuyển động và sức mạnh của nét vẽ cũng như mô phỏng loại y phục gấp nếp. Bản sao chép (thế kỷ 14 ?) phỏng theo một trong những đồ đệ của ông ta, Wu Zongyuan, có thể đưa ra một sự biểu lộ công bằng về phong cách của ông ta. Tuy vậy, tại Shoso-in ở Nara, một biểu ngữ đương thời có vẽ hình một vị bồ tát, tác phẩm khá hoàn thiện nhưng không phải của một họa sĩ nổi tiếng, có thể là một nghệ nhân được hoàng đế Shomu hoặc của đền Todai thuê làm (h.383). Dùng bút lông vẽ bằng một chấtmàu lấy từ cây dầu gai, sử dụng những nét vẽ và mảnh mai và đậm để mô tả loại y phục gấp nếp cuộn lên như dợn sóng, nó cho thấy một sự mạnh mẽ đáng kể, và là một khuôn mẫu rất tự nhiên, không gò bó về những gì người ta chắc hẳn nhìn thấy được ở tính cách nghệ thuật Wu Daozi.

    Một trong ít bản gốc của một họa sĩ nổi tiếng đời Đường là do bàn tay của một bậc thầy thứ yếu, Lý Chân (h.384). Một bộ tranh được phục chế Bảy Tổ sư của phái Shingon, Phật giáođược giữ ở To-ji, ngoại ô Kyoto. Trong bảy bản gốc có năm bản của Trung Quốc và hai bản bổ sung của Nhật Bản. Những Tổ sư của To-ji, một còn ở tình trạng khá tốt là những tư liệu của chùa, có bằng chứng rõ ràng ở những câu viết, và đặc điểm của những bản gốc được Lý Chân vẽ xuất khẩu sang Nhật vào thế kỷ thứ 9, Lý Chân hoạt động vào khoảng năm 800, và những bức tranh này được ghi vào tài liệu Nhật Bản kể từ thời gian này.

    Bức chân dung tổ sư Amoghavajra cho thấy ông ta ngồi trên một cái bệ, giống như một số vị hoàng đế trong tranh của Yan Liben. Đôi giày hạ của ngài nằm dưới bệ, và y phục của ngài rũ xuống quanh mình, đôi tay của ngài ở trong một tư thế tôn kính (pháp ấn) đặc trưng của phái Shingon. Mặc dù phần lụa bị hư hỏng nhưng những chi tiết biểu lộ tính hiện thực mạnh mẽ lạ kỳ. Nếu đây là một tác phẩm của một bậc thầy thứ yếu, như vậy chắc hẳn những bức họa tuyệt vời của Wu Daozi phải như thế nào? Đầu, tai, và đường nét hộp sọ, ở nền hội họa Trung Quốc sau này thể hiện như một khung vòm trơn tru, tất cả đều có một nét độc đáo sắc bén, như được thực hiện ở mắt, lông mày, hốc mắt và chiếc mũi có hình dáng đặc biệt. Một sự nghiên cứu như thế dành cho những nét nổi bật giúp cho người họa sĩ có cảm hứng mô tả tổ sư Amoghavajra như ngài đã được thật sự nhìn thấy hoặc a nhất đã được tưởng tượng ra để nhìn thấy, với niềm hy vọng rằng những điều này mô tả những nét nổi bật dù thật hay tưởng tượng, đều có thể cho thấy bản chất của một con người hoàn toàn thánh thiện. Những bức chân dung của Lý Chân vẽ trên lụa theo khổ tranh cuộn treo tường với kích cỡ đáng kể. Theo đúng luật và tính cân xứng, ở hai bên hông sư tổ Amoghavajra, tên của ngài được viết bằng chữ Trung Quốc ở bên trái và bên phải những chữ Sanskrit, ý nghĩa quantrọng về tâm linh của nó chuyển bức họa trở thành một điều gì đó của một mandala kỳ bí, một biểu đồ đặc biệt được kết hợp với Phật giáo Mật Tông.

    Từ chủ nghĩa hiện thực có chủ đích đến kiểu dáng kỳ quặc và cuối cùng đi đến lối vẽ biếm họa chỉ là một bước. Thật vậy, ở nền mỹ thuật của phương Đông lẫn phương Tây đều có mối quan hệ gần gũi giữa sự tập trung vào một nét độc đáo với một mối quan tâm tương tự trong lối vẽ biếm họa và lời lẽ châm biếm. Vào thời kỳ sau nhà Đường, sự trình bày những hình ảnh của 18 vị La Hán, đã trở thành những phương tiện cho sự rèn luyện trong chủ nghĩa hiện thực với những hình dáng kỳ quặc. Quan Tú sinh sống từ năm 832 tới năm 912 cho đến lúc kết thúc đời Đường và vào thời kỳ các nước nhỏ xung đột lẫn nhau được gọi là Ngũ Triều, đã họa những hình ảnh nổi tiếng chẳng hạn như Vi La Hán kỳ quặc (h.385). Thật tiếc thay, có nhiều tranh cãi liệu có phải những bức họa được người ta cho là của ông là nguyên bản. Các bức họa đẹp nhất chắc chắn đã được lưu giữ ở Bộ sưu tập Hoàng gia ở Tokyo. Quan Tú mô tả những hình dáng bên ngoài kỳ quặc để nhấn mạnh tính thánh thiện bên trong. Không có con Đường nào dễ dàng để đi đến Sự Giác Ngộ. Đạo, đó là quanh co phức tạp, ghê sợ, và kiệtsức, những nhu cầu phải để lại những biểu hiện của nó ở những người đã đi theo cho đến điểm tận cùng của nó. Một cây nhiều mắt, xương xẩu và bằng một cách nào đó là một đối tượng tưởng thưởng của sự suy niệm hơn là một cây con. Và giống như vậy, hình ảnh một nhân vật kỳ quặc, xương xẩu, càng kỳ quặc hơn về cái nhìn, bộ râu quai nón càng rậm hơn và bàn chân càng chai đá hơn thì cá tính càng cao quý hơn. Người họa sĩ không cho chúng ta xem sự xấu xí, những khía cạnh bên ngoài mà là xem một nỗ lực tâm linh siêu việt. Những tác phẩm của Quan Tú, như chúng ta biết từ những bức họa ở Bộ Sưu Tập Hoàng Gia, cho thấy một truyền thống giống như sợi dây kim loại mỏng manh, giống như của Lý Chân đã sửdụng trong cách diễn giải của ông ta về tính hiện thực. Hiển nhiên cách sử dụng về đường nét mang lối viết chữ đẹp trong truyền thống của Wu Daozi, thể hiện một khuynh hướng đạo đức riêng biệt, một khuynh hướng bền bỉ trong nền hội họa sau này cũng như trong những tranh tường của cuối đời Đường và đời Tống.

    Tương phản với những hình ảnh nhân vật nam của những họa sĩ mạnh mẽ là họa sĩ Chu Phương (hoạt động k.780 - k.810),

    [​IMG]

    383. Bồ Tát. Chi tiết từ một bức tranh; mực trên vải gaidầu; cao 133 cm. Nhật Bản. Thời kỳ Nara, giữathế kỷ thứ 8. Chùa Todai, Nara.

    [​IMG]

    384. Tổ sư thiền Amoghavajra. Của Lý Chân (Li Zhen) (hoạt động k.780-804). Tranh cuộn treotường; mực và màu trên lụa: cao 2,11 m. TrungHoa. Đời Đường. Chùa To, Kyoto.



    người nổi tiếng về những sự mô tả người nữ. Bức tranh có lẽ thể hiện tốt nhất phong cách của ông ta là một trong Những phu nhân cung đình cài hoa trên tóc. Nó là một tranh lụa cầm tay, với phần còn lại có màu sắc rực rỡ, từ màu vàng, màu đỏ và màu cam cho đến màu xanh da trời, màu lục malachit, và màu đen quen thuộc. Theo đúng thời trang, hình ảnh những nữ nhân cung đình và trẻ em đều ăn mặc sặc sỡ. Những nhân vật nữ cung đình nở nang, tròn trĩnh cũng là theo mốt. Trong lúc ấy, Cố Khải Chi ở thế kỷ thứ 4 đã vẽ “những thỏ ngọc” và “những cây dương liễu đong đưa” với những “khuôn mặt hình cánh hoa” và “những chiếc eo thon giống như bó lụa” và những nữ nhân đầu đời Đường ở trong làng mộ của Công chúa Vĩnh Thái (xem h.379), mặc dù kém nét nhẹ nhàng, thanh cao nhưng hầu hết đều có vẻ duyên dáng, người họa sĩ của bức tranh Những phu nhân cung đình cài những đóa hoa mô tả những khuôn mặt như trăng rằm và thân hình tròn trĩnh. Rõ ràng ý tưởng về cái đẹp đã thay đổi. Có lẽ những phụ nữ này thể hiện những con người hãnh diện và sung sướng sống thoải mái và dư thừa trong những năm tháng suy tàn của đời Đường. Những tượng nhỏ táng theo các lăng mộnhững phu nhân cuối đời Đường và Nam Đường (937 - 975) có cùng những tầm vóc tương tự.

    Ở hầu hết những tác phẩm chúng ta đã nhìn thấy được cho đến nay có bố cục rất nhỏ. Ngay cả những bối cảnh chung có chi tiết công phu của ngôi mộ đá ở Bảo tàng Nelson-Atkins còn hơn Chu Phương dành cho những nữ chủ nhân cung đình của ông ta. Khung nền trừu tượng là nét đặc trưng của nghệ thuật vẽ tượng hình Trung Quốc cho đến ngày nay. Rất hiếm khi mãi cho đến đời Tống, người ta mới thật sự thấy một bố cục liên hệ đến từng phần của sự sắp xếp hoặc là một nội thất của căn phòng hoặc một không gian bất tận. Vấn đề này dường như đã được để lại cho họa sĩ vẽ phong cảnh giải quyết.

    [​IMG]

    385 Vị La Hán. Của Quan Tú (832 - 912). Tranh cuộntreo tường; mực và màu trên lụa; cao 127 cm. TrungHoa. Thời kỳ Ngũ triều. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.

    Trong bức tranh này cũng có một mối liên hệ vi tế giữa hình ảnh những nhân vật và những không gian mà nó góp một nét đặc trưng mang tính âm nhạc vào sự sắp xếp. Chỗ trống giữa những nhân vật hầu hết đều có tính gợi cảm và đòi hỏi thay đổi trong kích cỡ và hình dáng, và chính hình ảnh

    những nhân vật được vận dụng với sự nghiên cứu cẩn thận ở mối liên hệ mặt bằng bức tranh với mỗi phần khác, đã tạo nên một sự nhịp nhàng gần giống như âm nhạc. Khán giả không bị thu hút vào bức tranh bởi ánh mắt và dáng điệu mà quan sát tứ một khoảng cách tôn trọng.

    Chu Phương xây dựng một công thức cho sự mô tả nhân vật nữ quý tộc Trung Quốc, và các tác phẩm của ông được sao chép lại và dùng như một khuôn mẫu cho tất cả những họa sĩ vẽ về phụ nữ ở các triều Tống, Nguyên, và Minh. Những họa sĩ sau này đôi lúc thay đổi tầm vóc để phù hợp với thị hiếu của thời đại, nhưng kiểu sắp xếp chung, chủ đề, bảng màu, nét vẽ, và mối liên hệ giữa những nhân vật hầu như do Chu Phương dựng lên.

    Thêm vào đó, những họa sĩ tự khép mình trong hội họa hình tượng, có những chuyên gia thậm chí ở trong những lĩnh vực hạn chế. Vì vậy lần đầu tiên chúng ta đối mặt với những họa sĩ có những chủ đề chính của họ về ngựa, hoặc tranh tĩnh vật. Ngựa cũng là đề tài phổ biến trong mỹ thuật và cuộc sống, đều thiết yếu ngang nhau đối với sức mạnh quân sự của nhà Đường cũng như những môn giải trí và sănbắn của giới quý tộc. Người họa sĩ vẽ ngựatuyệt vời nhất, được nhiều người yêu mến nhất là Hàn Cam. Có lẽ bức họa xinh đẹp nhất được người ta nói là của ông ta là bức họa ở Bảo Tàng Cung đình Quốc gia ở Đài Bắc (h.386). Nó mô tả hai con ngựa, với một chú rể người vùng Trung Á cỡi một con và dẫn theo một con khác, một sự kết hợp thường được người ta lặp lại ở tranh họa sau này. Chi tiết chủ nghĩa hiện thực là đáng lưu ý, do bởi bố cục trừu tượng theo lệ thường ngày nay.

    Một sản phẩm đặc biệt, nhất là đầy ý nghĩa đối với tương lai, đó là tranh họa về “lông mao và lông vũ”, một thể loại rất thích hợp với mối quan tâm của nhà Đường. Một nhà chuyên môn nổi tiếng nhất của thời kỳ, Hoàng Tuyền (903-968), đã đạt đến độ chín muồi sau sự tan rã của nhà Đường. Phần nhiều sự nghiệp của ông trải qua không được bao lâu nhưng được tôi luyện trong triều kế tiếp ở Thành Đô, Tứ Xuyên, kết thúc cuộc đời ông như là một họa sĩ được tôn kính của triều đình nhà Tống. Một bậc thầy của sự quan sát cẩn thận và mô tả chính xác,ông cũng thành công trong việc nắm được cái thần (khí vận) trong những chủ đề của mình (h.387). Tác phẩm hội họa về chim, côn trùng và hai con rùa ương ngạnh, ngày nay được đóng khung như là tranh cuộn cầm tay, sánh bằng những tác phẩm tương tự của Dürer. Rõ ràng bức họa này cung cấp những khuôn mẫu ít nhất cho một trong những người con trai họa sĩ của ông ta, ở bên trái, được đề tặng phía trái bên dưới, “Tặng cho con trai Tô Bảo để học hỏi”.

    Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Trung Quốc cho thế giới mỹ thuật là tranh phong cảnh, được phát triển nhanh chóng vào đời Đường và đạt đến kết quả mỹ mãn vào đầu đời Tống. Ít người có thể phủ nhận nét độc đáo của tranh họa phong cảnh Trung Quốc. Mặc dù những đỉnh cao đầu tiên của truyền thống tuyệt vời này cho mãi đến thế kỷ thứ mười mới thật sự thăng hoa, chắc chắn đã có sự chuẩn bị trong thời nhà Đường. Chúng ta chắc chắn đã thấy được những hình thức tiếp cận ướm thử đến với phong cảnh ở những viên ngói của lăng mộ và đồ dát đồng; phong cảnh tóm lược tô điểm cho tranh Phật giáo như là một sự bố trí cho những vai chính của đức tinh nó xuất hiện như là một đồ phụ tùng để kể chuyệntrong bức tranh Nữ thần ở sông Lạc của Cố Khải Chi. Nhưng những sự khởi đầu của tranh phong cảnh vì lợi ích của bản thân nó được nhận ra những bức tranh ghi chép lại những sự kiện lịch sử lớn lao. Ít nhất chúng được đưa lùi về thế kỷ thử 7 trong tác phẩm của Li Sixun (651-718 SCN), bậc thầy tài hoa nhất của phong cách kể chuyện bằng màu xanh và màu lục, ông ta đặc biệt nổi tiếng với việc sử dụng màu sắc và vàng để phác thảo những tảng đá, kiến trúc và những yếu tố trang trí. Con trai ông, cũng là người kế nghiệp nghệ thuật, là Li Zhaodao(hoạt động k.670 - k.730). Ngày nay chúng ta chỉ biết họ qua tài liệu văn học và những bản sao chép. Chẳng hạn như bức họa có tựa đề Chuyến đi của hoàng đê Minh tới

    [​IMG]


    386. Hai con ngựa và người giữ ngựa. Được cho là của Hàn Cam (hoạt động năm 742 - 756). Album; mực và màu trên lụa, cao 27,6 cm Trung Quốc. Đời Đường. Bảo tàng Cung đình Quốc gia, Đài Bắc.


    hoàng đế Shu, được cho là của Li Zhaodao, trong bộ sưu tập của Bảo tàng Cung đình Quốc gia, Đài Bắc. Nhưng tác phầm còn lại đẹp nhất của tranh đời Đường là Du Xuân ở Bắc Kinh, được cho là của Zhan Ziqian thuộc nhà Tùy nhưng sự thể hiện rõ ràng về phong cách và có lẽ thuộc nửa thời kỳ đầu nhà Đường. Mặc dù là một tranh cuộn cầm tay nhỏ, nhưng nó lại tạo một ấn tượng đầy thuyết phục về một không gian sâu lắng từ một quan điềm nâng cao. Bức tranh này được hoàn thiện do bởi việc sắp xếp một vài dãy núi hình bậc thang từ phải sang trái, bằng cách xếp chồng lên những cái khác tứ phía trước đến phía sau, bằng cách mở rộng cửa sông hướng lên phía cao hơn, vào khoảng trống xa xa, và bằng cách làm cho những nhân vật với tỷ lệ nhỏ đi. Với những kỹ thuật bố trí này càng tăng thêm nhiều ấn tượng hơn phong cảnh mộc mạc và đơn sơ phác họa ở Đôn Hoàng (xem h.241). Tuy vậy, cách sử dụng màuxanh và màu lục trang trí, những cây cỏ còn thiếu nét khác biệt, sự mô tả hoa lá xa xa không thay đổi chỉ nằm dọc theo những sườn núi hay sườn đồi, và hình dáng lặp lại quen thuộc của những dãy núi, tất cả kết hợp lại khiến cho người ta nghĩ đến một khu vườn - một phong cảnh thu nhỏ lại - thay vì những cảnh quan thiên nhiên to lớn và hấp dẫn được vẽ vào thế kỷ 10 và 11 . Tính cách màu xanh và màu lục được kết hợp với nhà Đường và triều đình của nó đem lại cho những họa sĩ hoài cổ ở đời Minh và Thanh một phong cách đúng kiểu cổ và nâng caocho việc mô tả những chủ đề truyền thuyết hoặc lịch sử của đời trước.

    Bậc thầy được kết hợp mật thiết với những sự mở đầu nền. hội họa phong cảnh thuần túy là họa sĩ Vương Vệ (699-759); ông không chỉ nổi tiếng là một trong những họa sĩ vẽ phong cảnh tuyệt vời nhất mà còn là người đi tiên phong trong tranh họa phong cảnh một màu. Điềumà chỉ duy một họa sĩ bắt đầu vẽ tranh mực tàu, chúng ta có thể hoài nghi rất nhiều. Tuy vậy, chính vào thời kỳ của ông ta một hình thức phong cảnh nào đó đã được mô tả một cách ưu việt bằng mực tàu. Trong nhiều tuyệt tác của thế kỷ 10, người ta đã dùng những loại màu nước nhạt hoặc thậm chí cả màu tươi và màu tối.

    [​IMG]

    387. Chim, côn trùng và rùa. Của Hoàng Tuyến (903 - 968). Tranh họa được lên khung như tranh cuộn cầm tay;mực và màu trên lụa; cao 41,3 cm, dài 69,9 cm. Trung Quốc. Thời kì Ngũ triều. Bảo tàng Cung đình, Bắc Kinh.


    Nhưng chắc chắn là họ Vương, theo sự đánh giá từ bằng chứng của những tác phẩmchạm trổ trên đá còn lại, đích thật ông ta là người “sáng tạo” nền móng hội họa phong cảnh, và những tác phẩm đi xa hơn mà người ta nói là của ông cũng là điều dễ hiểu. Bức tranh cuộn về ruộng đất, nhà cửa vùng quê của ông ta, được gọi là Vương Chuẩn gia trang chúng ta biết nó qua nhiều bản sao chép khác nhau, tất cả đều cách biệt so với bản gốc nhưng cũng có một số bản ít khác biệt hơn. Lời giải đáp cho những sự việc này là một dạng chạm trổ trên đá, được thực hiện vào năm 1617 phỏng theo một bức họa cuối thế kỷ 10 được cho là một bản sao trung thực từ bản gốc của họ Vương. Cũng có một bức tranh cuộn cầm tay, có lẽ thuộc thế kỷ15 hoặc 16 vẽ bằng màu trên lụa, thích hợp với thời kỳ của nó (h.388). Giữa bức tranh cuộn này và sự khắc chạm trên đá có một

    [​IMG]

    388. Vương Chuẩn gia trang, thế kỷ 15 hoặc 16(?) Sao chép theo Vương Vệ (699-759). Một phần của tranh cuộn cầm tay; mực và màu trên lụa; cao 29.9 cm, dài 4.8 m. Trung Quốc. Đời Minh. Bảo tàng Mỹ thuật Seattle.

    [​IMG]

    389. Cảnh tuyết rơi. Của Vương Vệ (699-759).Album; mực và chất màu trắng trên lụa caokhoảng 45,7 cm. Trung Quốc. Đời Đường. BộSưu tập Gia đình Mãn Châu.

    390. (bên phải) Kichijoten. Màu trên vải gai dầu: cao 53 cm. Nhật Bản. Thời kỳ Nara, thế kỷ thứ 8.Yakushi-ji, Nara.


    sự tương tự đáng lưu ý. Theo thực tế sự khắc chạm là một phản ánh khá hợp lý với bản gốc thuộc thế kỷ thứ 8, như vậy tranh cuộn cầm tay có thể gợi lên một điều nào đó về sự đóng góp của Vương Vệ. Chắc chắn nó trình bày một phong cảnh thật: một quang cảnh về một gia trang; một nhóm những tòa nhà, một vài người nông dân cày cấy, một con thuyền câu cá trên sông. Thay vì kể chuyện, chúng ta có một sự xử lý địa hình thiên nhiên. Mỗi khu vực được đặt tên cho từng phân khu gia trang nó thể hiện, như thể người vẽ địa hình thực hiện những sự khoanh tròn khu vực gia trang đã tạo nên một bản đồ mô tả bằng tranh ảnh cho việc nhận ra từng nét đặc sắc lẫn sự thích thú.

    Thật thú vị, bức họa này mô phỏng dựa theo một “tác phẩm” thế kỷ thứ 8, tuy vậy lại để lộ ra một sự hoài nghi trong việc mở rộng những vị trí của phong cảnh. Có rất ít sự biểu thị về bất cứ điều gì vượt xa hơn những dãy núi, toàn bộ hầu như thể phong cảnh bổ nhào xuống phía người xem, theo từng phần thay vì toàn bộ. Như vậy có một vấn đề khó khăn nhất đối với tất cả tranh họa phong cảnh - sự sáng tạo một không gian đầy thuyết phục giữa cận cảnh và khoảng cách - mà người họa sĩ đã tránh đi bằng cách đưa vào núi đây một dòng nước. Đây là một phương cách nổi tiếng thoát ra khỏi quy luật cho những họa sĩ ngày xưa, biểu thị mộthình thức phát triển vẫn còn cổ xưa. Toàn bộ phần còn lại của bức tranh cuộn đều mang tính cách cổ, với từng khu vực được làm cho nghiêng xuống như thể nó là một bản đồ và tạo thành một phòng nhỏ bằng một phương cách đơn giản cho núi hoặc đá bao quanh.

    Cho đến ngày nay người ta chưa biết đến những bức họa phong cảnh bằng một màu mực thuộc niên đại nhà Đường hoặc những bản sao như thế, mặc dù chắc chắn có một tranh vẽ người một màu nào đó. Nhưng một nhóm nhỏ các bức họa phong cảnh một màu, một trong những bức tranh này được khai quật từ một lăng mộ vào đầu thế kỷ thứ 10, chứng tỏ rằng thể loại này thuộc về Vương Vệ, và thế kỷ thứ 8 có thể là không xác thật. Phần đẹp nhất của loạitranh này là một album nhỏ vẽ trên lụa (h.389), nguyên trước đây thuộc một Bộ Sưu Tập Gia Đình Người Mãn Châu được cho là của Vương Vệ theo dòng chữ viết của Hoàng đế Huệ Tông vào đầu thế kỷ 12. Chủ đề là một phong cảnh mùa đông, một chủ đề có chung ở những bức họa khác trong nhóm. Người họa sĩ dùng những chất màu trắng đục trên lụa, đem lại một bức họa một màu trái ngược; lụa bị đổi màu tạo nên những màu tối và màu trắng đục tạo nên những nét nổi bật nhất. Sự mô phỏng hình dáng những tảng đá theo kiểu cổ và đơn giản thật xinh đẹp và lạ thường. Phẩm chất quen thuộc của album tranh họa này là sự hồi tưởng lại tranh cuộn Vương Chuẩn gia trang, giống như giải pháp cho vấn đề cảnh giữa là dùng phương cách mở rộng bằng dòng nước.

    Một số bức họa quan trọng được gìn giữ ở Nhật đã giúp cho mọi người hiểu rõ thêm về tranh họa Trung Quốc mà chúng ta vừa biết đến. Một bức tranh nhỏ được giữ ở chùa Yakushi mô tả nữ thần Kichijoten với tình cảm dạt dào, xuất xứ từ nữ thần Lakshmi Ấn Độ (h.390). Mặc dù chủ đề trên danh nghĩa Phật giáo, nhưng sự thể hiện và phong cách thuần túy xuất phát tứ sự thể hiện những vẻ đẹp trang nhã thuộc đời Đường, chẳng hạn như những bức tranh của Chu Phương (hình tr.397-trên). Thật vậy, tài liệu được ghi chép lại cùng với sự bảo quản tượng Kichijoten được dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá những tranh họa Trung Quốc khác có cùng thời đại và phong cách với nó. Những phần cơ thể tròn trĩnh chúng ta đã từng thấy trước đây, nhưng Đường nét hài hòa đáng yêu của loại y phục gấp nếp tung bay theo gió, màu sắc duyên dáng và nhiều mảng màu khác nhau trong những mẫu vải, và đôi bàn tay duyên dáng sống động khiến cho bức họa này vượt xa những bức họa vẽ người của Trung Quốc vào giữa thời kỳ nhà Đường còn lại ngoại trừ bức họa Những phu nhân cung đình cài hoa trên tóc. Tính cách hình học duyên dáng ở những nét mặt, chủ yếu cặp lông mày và cáimiệng nhỏ giống như cánh cung của thần ái tình, tất cả đều có mối liên hệ mật thiết với phong cách nổi bật của nền mỹ thuật đời Đường ở thế kỷ thứ 8, cho dù ở trong các bức họa, các tác phẩm điêu khắc, hoặc những pho tượng nhỏ không xuất sắc được táng theo những phần mộ.Một bộ bình phong được giữ ở Shoso-in trình bày những phu nhân cung đình đang ở dưới những cây trổ hoa hoàn toàn mang tính trang trí và thế tục theo tự nhiên (h.391). Theo thời gian trôi qua ngày nay cho thấy những bức họa này không có hình thức trang trí quá mức lộng lẫy của thời kỳ ban đầu của chúng được áp dụng theo phong cách lông vũ với màu sắc óng ánh. Nhân vật được thể hiện ở đây ở trong phong cách hội họa nhà Đường mà chúng ta kết hợp với Chu Phương. Có thể những nghệ sĩ tài hoa và nổi tiếng như thế này thực hiện nhữngbình phong thuộc loại này ngoài ra còn có những khổ tranh cuộn cầm tay và treo tường đặc biệt. Đường nét cơ bản về phong cách nhân vật này thật rõ ràng, do bởi sự bỏ bớt màu sắc trang trí đã giảm bớt toàn thể ấn tượng tinh xảo một chút. Đường nét đổi thay với chủ đề: Đávà cây cỏ được vẽ hầu như với Đường nét thư pháp nhân vật với Đường nét mảnh mai như sợi kim loại và có cân nhắc hơn.

    Ngay cả tranh họa khung cảnh cũng được phát hiện ở một số đối tượng hữu ích được duy trì ở Nhật Bản. Trên miếng chặn phím đàn của một trong những chiếc đàn tỳ bà ở chùa Shoso có vẽ một phong cảnh kỳ lạ,

    [​IMG]

    391. Một phu nhân dưới một cây. Chi tiết từ một bình phong mực và màu trên giấy; cao 125.7 cm. Nhật Bản. Thời kỳ Nara. Một phần tư đầu thế kỷ thứ 8. Shoso-in, Todai-ji, Nara.



    với những nhạc công đang cởi trên một con voi ở cận cảnh và một đàn ngỗng bay qua một ngọn đèo ở trên những dãy núi xa xa về phía chúng ta (h.392). Dáng vẻ của những dãy núi này giống như ở câu chuyện thần tiên. Với những đường nét phác thảo lặp lại và dập dờn như sóng của những rặng núi lùi xa xa, gợi nhớ đến phong cách trang nhã của Li Sixun. Khổ tranh thẳng đứng là một trong ít bằng chứng còn lại cho những tranh cuộn phong cảnh treo tườngthuộc đời Đường, và sự phân chia khoảng không giữa những dãy núi gần phía bên trái và một cảnh nhìn xa qua một lối hẹp phía bên phải là một phương cách bố cục hơi tiến bộ. Mặc dù phong cách thu nhỏ đầy duyên dáng, nhưng tuy thế sự xác định


    392. Phong cảnh với những nhạc công cỡi trên một con voi. Tranh vẽ trên một chiếc đàn tỳ bà, cao 51,8 cm. Thời kỳ Nara. thế kỷ thứ 8. Todai-ji, Nara.

    không gian thật sự và của những đối tượng trong khoảng không vẫn còn mang tính lược đồ cao và một chút tiến bộ vượt xa những tác phẩm thời kỳ Lục Triều như thế giống như ngôi mộ đá của Bảo tàng Nelson Atkins. Điều đáng lưu ý là những nhạc công thuộc phong cách Trung Á, bởi vì gần như tất cả những nền mỹ thuật của đời Đường và thời kỳ Nara, đặc biệt là những nền mỹ thuật vị lợi, cho thấy chịu nhiều ảnh hưởng từ vùng Trung Á và ngay cả Sasania Persia và Mesopotamia.

    Những nền mỹ thuật trang trí

    Sự lộng lẫy mang tính thế tục của nền văn minh đời Đường làm nảy sinh sự sáng

    [​IMG]

    393. Tách uống rượu hình đầu con linh dương. Đá cẩm thạch(?) Với vàng; dài 15,5 cm. Tây An, SơnTây. Trung Quốc. Đời Đường, có thể trước năm756. Bảo tàng tỉnh Sơn Tây, Tây An

    394. (bên phải) Bình có quai, trang trí ngựa trình diễn. Bạc trang trình nổi mạ vàng; cao 14,5 cm.Tây An. Sơn Tây, Trung Quốc. Đời Đường, có thểtrước năm 756.

    tạo những nền mỹ thuật trang trí xa hoa với phạm vi lớn lao, nhiều thay đổi và phong phú hơn bất cứ nền mỹ thuật nào kể tứ cuối thời kỳ nhà Chu. Tiếc thay, ở vùng lục địa những mẫu vật này chỉ tồn tại trong các phần mộ (như là đồ trang trí cho lăng mộ hoặc để giữ cho an toàn). Chủ yếu nhiều đồ gốm rực rỡ ở đồ đất nung lẫn đồ đá, cũng như một ít mẫu vật ở những chất liệu quý giá hơn - vàng, bạc, đá quý, ngay cả đôi lúc bằng ngọc. Cái tẩu thuốc trong hình dángcái đầu của một con dê núi với cái miệng bằng vàng (h.393) là mẫu vật duy nhất mang hình dáng này bằng một loại ngọc thường được phát hiện ở Trung Quốc. Trong phong cách cũng như ở chủ đề nó gợi lên nền mỹ thuật cuối thời kỳ Iran Sasania hoặc của Sogdiana, một tỉnh cực đông bắc của đế chế Sasania, như nó có thể đã được thực hiện vào đời Đường, nơi tất cả những mẫu vật vùng Trung Á là đỉnh cao về kiểu cách.

    Thậm chí có một điều thật phi thường hơn nữa là một bình đựng nước bằng bạc với một mẫu trang trí mạ vàng hình một con ngựa đang biểu diễn (h.394). Trong hình dáng chiếc bình mô phỏng những bình thót cổ được những giống dân Thổ Nhĩ Kỳ thuộc vùng Trung Á đem đến; về kỹ thuật nó phản ánh những truyền thống làm đồ bạc của Sasania Iran; nhưng đề tài kỳ lạ minh họa một sự giải trí thật sự ở triều vua Tuyên Tông (Minh Hoàng trị vì 712-756). Trong lúc duy trì một tư thế thanh nhã rất gượng ép đối với những con ngựa, con ngựa đangngậm một tách đựng rượu có chân. Những văn tự đời Đường ghi chép về ngựa từ những trại huấn luyện ngựa rộng lớn của hoàng đế nơi chúng được huấn luyện nhảy múa trong khi ngậm những tách rượu. Chiếc bình này, giống tách uống rượu có hình đầu thú, là một phần của một kho tích trữ những món vật quý báu được phát hiện nơi một cung điện đời Đường đã từng tọa lạc, ở Hà Gia Côn, một ngoại ô của Tây An.

    Những pho tượng nhỏ chôn theo lăng mộ đời Đường đặc biệt được người phương Tây chú ý. Những nhân vật hiện thực và đầy sinh động đến độ sững sờ, với ý định

    [​IMG]

    395. Tượng táng theo lăng mộ: nhạc công thụ cầm. Đồ đất nung; cao 32,1cm. Trung Quốc. Đời Đường.Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.

    Chỉ cho thấy ở những đám tang và sau đó đem chôn - mãi mãi, người ta hy vọng rằng nó sẽ mang lại một kính vạn hoa của thế giới nhà Đường. Tất cả mọi thành phần xã hội đều được trình bày cũng như nhiều con thú được các họa sĩ thời ấy biết đến. Tuy vậy, những khuôn mẫu kiến trúc truyền thống đời Hán phần lớn đã bị mất hẳn, có lẽ do bởi những hình dáng bất động (tĩnh) của chúng ít lôi kéo sự quan tâm đối với tầm nhìn năng động của nhà điêu khắc đời Đường. Những pho tượng ngựa và lạc đà, cao khoảng 10 cm có lẽ được người ta quan tâm nhất. Một mẫu vật đầy sức sống và lộng lẫy thuộc loại nghệ thuật gốm dành cho việc chôn cất đời Đường là một nhóm đồ vật được khai quật năm 1957 tứ lăng mộ của Xianyu Tinghui ở Nam Hà Côn, Tây An. Một đoàn hát nước ngoài có cùng một con vật cỡi duy nhất là một ý nghĩa dí dỏm quen thuộc trong mỹ thuật đời Đường, và có thể phản ánh một chuyện tầm thường trong đời Đường. Ở đây những người nhạc công cỡi trên một con lạc đà, khiến người ta nhớ lại những người cỡi trên một con voi được vẽ trên một miếng chặn phím cho đàn tỳ bà ở Shoso-in (xem h.392). Ngược lại với đàn tỳ bà Shoso-in là nhạc công người Trung Á có râu quai nón đang gảy đờn trên lưng lạc đà.

    Sự nung thành công những mẫu đồ gốm to lớn như thế chính nó là một thành quả tolớn; cùng với sự khéo léo tuyệt vời của những nghệ nhân đó là hàng trăm hàng ngàn pho tượng nhỏ được làm bằng chất lượng thay đổi nhau cho từng tầng lớp trong xã hội. Sự độc đáo nhất cũng thay đổi những tác phẩm điêu khắc bằng gốm này, và thường xinh đẹp nhất không phải là tráng men bóng mà là được sơn vẽ bằng những chất màu bởi lớp men màu (làmbằng đất sét lỏng) phủ trên đồ gốm đỏ với những màu sắc tứ màu trắng sang màu da bò cho đến màu đất nung.

    Một ít chủ đề Phật giáo dành cho các vị vua trời - và những chủ đề này cũng có thể là của Lão giáo hoặc Khổng giáo - được phát hiện trong những pho tượng nhỏ trong lăng mộ. Một số lượng lớn hơn là những chủ đề thế tục - những nữ nhạc công, những vũ công cung đình, những diễn viên hài nước ngoài, những thợ săn và nhiều loại khác được người ta biết đến trong vô số những mẫu vật, một số chúng rõ ràng được làm từ những mẫu mã giống nhau và chỉ ở những chi tiết làm bằng tay hoàn chỉnh (h.395). Sự xuất hiện đầy đủ của một bộ đồ trang trí cho lăng mộ có thể giúp người ta đánh giá từ những nhóm mẫu vật được khai quật cònnguyên vẹn hiện ở Bảo tàng hoàng gia Ontorio (h.396). Toàn bộ những đoàn người cỡi ngựa và lạc đà là những người Trung Á, những đoàn ca múa với những vũ công và nhạc công, những đoàn kỵ binh và bộ binh là những đồ trang trí khác thường ở lăng mộ của một quan chức giàu có. Mục đích kỳ bí của chúng vẫn chôn giấu theo người chết, và có lẽ tính cách hiện thực và cầu kỳ của chúng thậm chí khiến cho chúng càng thích hợp hơn cho mục đích này hơn là những tượng theo đúng kiểu cách trước đó.

    Tuy vậy, những đồ đất nung tráng men bóng như thế không tượng trưng cho thành phần tiến bộ nhất của kỹ nghệ gốm đời Đường. Đồ đá tiếp tục phát triển, và những đồ sứ thật, rõ nét phương Tây hiện đại được sáng tạo vào thời kỳ này. Thuật ngữ Trung Quốc chỉ đồ sứ tà tất cả đồ gốm mà nước men của chúng và mẫu vật được liên kết chặt chẽ với nhau bởi sự nung ở nhiệt độ cao. Những người Phương Tây sành điệu đòi hỏi rằng cấu trúc phải có màu trắng cũng như đục. Ví dụ, những đồ sứ màu lục tươi đối với người Trung Hoa là đồ sứ, nhưng ở phương Tây thứ bậc của nó là đồ đá mang tính sứ - trong thứ tự nhiệt độ nung sau đây - đồ đất nung, đồ đá, đồ đá sứ và đồ sứ.

    Đồ gốm Yue của miền Nam thăng hoa và được xuất khẩu đến những nơi xa xôi. Sựtrang trí phóng túng của chúng tuyệt vời hơn những đồ gốm trước đó, phản ánh tính cách chủ nghĩa thế giới và những sở thích rộng lớn của xã hội đời Đường.

    Những mẫu trang trí mạ vàng các hình bông hoa và người được ưa chuộng, nhưng rất ít mẫu vật hoàn hảo còn tồn tại, mặc dù những mẫu trang trí tinh xảo được người ta biết đến tứ những mảnh vỡ được phát hiện ở những địa điềm lò gốm ô vùng bắc Chiết Giang.

    Vào cuối triều đại, miền bắc sản xuất một loại đồ sứ màu trắng tuyền được gọi là đồ sứ Xing thường là chén, đĩa. Những chiếc bình đồ sứ Xing cực kỳ hiếm, một bình rộng miệng cực kỳ nổi tiếng trước đây ở bộ sưu tập Eumorfopoulos và bây giờ là Bảo tàng Anh Quốc (h.397). Chiếc bình có dáng mạnh mẽ với miệng bình đầu chim và những hoa lá đan nhau trên thân bình dường như là một mẫu vật hoàn hảo mang tính truyền thống mạnh mẽ, thế tục, và sơn son thếp vàng. Những món đồ sứ màu ngọc bích và màu trắng là những nền tảng đồ sứtinh xảo hơn của thời kỳ tiếp theo.

    Trong hàng ngàn đồ ngọc Trung Quốc được duy trì đến ngày nay, chúng ta chỉ đang bắt đầu nhận ra một số mẫu vật thuộc đời Đường. Nhưng từ một số mẫu vật xinh đẹp được xác định là thuộc niên đại nhà Đường, một điều thật rõ ràng rằng ngọc là một trong những phương tiện mà những họa sĩ của thời kỳ thể hiện quan điểm được người ta chấp nhận. Tuy nhiên vật liệu quý giá nhất và khó làm là điều ít nhất có thể thử nghiệm đối với những ý tưởng của đờiĐường về chủ nghĩa hiện thực và khuynh hướng. Kết quả là chúng thật duyên dáng biết bao, một ít đồ ngọc còn lại dường như là những tác phẩm mỹ thuật trang trí ít nhất giống như của đời Đường.

    May mắn thay, cũng có một nguồn thông tin khác cho sự hiểu biết của chúng ta vềnhững nền nghệ thuật trang trí đời Đường, đó là Nhật Bản, chúng ta từng biết là một vệ tinh về văn hóa và tôn giáo của Trung Hoa trong thời kỳ Nara. Hầu như những hoàn cảnh kỳ diệu đã góp phần bảo tồn nền nghệ thuật trang trí cũng như hội họa Phật giáo. Chùa Horyu và Todai, quê hương của những tác phẩm điêu khắc theo phong cách nhà Đường, và cũng được người ta gìn giữ một số khuôn mẫu của những nền mỹ thuật thực dụng và thế tục. Nhưng nguồn lưu trữ tuyệt vời nhất trong tất cả chắc chắn là chùa Shoso ở trong khuôn viên khu chùa Todai,một kho báu đồ vật trang trí cung đình và những thiết bị của hoàng hậu Komyo cúng dường để tưởng niệm và dâng cho sự cứu độ chồng bà, hoàng đế Shomu vào năm 756. Kho báu này hầu như được bảo quản trọn vẹn cho đến nay ở trong một nhà kho còn nguyên thủy làm bằng gỗ cây bách (h.398).

    Có hơn sáu ngàn cổ vật trong sự tập họp phi thường này tứ những loại dược thảo và vũ khí cho đến những tấm thảm, và những dụng cụ âm nhạc, những bàn cờ, tất cả không ghi niên đại từ sự cúng dường của hoàng hậu, nhưng hầu hết đều được đưa vào chùa Shoso trong thế kỷ thứ 8. Nhiều mẫu vật như thể mới làm gần đây, nhờ công trình kiến trúc bằng những súc gỗ “cùng thở”

    [​IMG]

    396. Tượng táng theo lăng mộ với bia đá. Đồ đất nung tráng men. Trung Quốc. ĐờiĐường. Bảo tàng Hoàng giaOntario. Toronto.

    với những sự thay đổi theo mùa, khi khí hậu ẩm ướt, nó nở ra để tránh cho khỏi ẩm ướt và co vào để giúp ích.o không khí khô ráo vào cuối hạ và thu để đông thoáng không khí của ba phòng chứa nội thất. Ở đây, chúng được bố trí hết hàng này đến hàng kia trong những tủ đứng và những kệ, là những đồ trang trí của hoàng gia trong triều Nara. Ngay cả trong sự trưng bày này, nó tạo cho người ta ấn tượng về chất lượng cũng như kích cỡ, nhưng chắc hẳn chỉ làmột phần nhỏ những gì mà hoàng đế Trung Hoa có thể đòi hỏi ở Kinh đô Trường An.

    Một số những mẫu vật ở chùa Shoso chắc chắn không phải thuộc nguồn gốc Nhật Bảnlà những món quà tứ nước ngoài hoặc những món đồ xa hoa tuyệt đẹp do hoàng đế tích lũy.

    Những loại vải đặc biệt khác nhau và rất phong phú, và người ta cho là những kỹ nghệ dệt vùng Đông Á đã được hồi sinh. Thật vậy, những con đường mậu dịch được gọi là “Con đường Tơ lụa”. Nhiều loại lụa được in, một số bằng phương pháp nhuộm bằng tăng xin, nhiều mẫu ma trừu tượng bằng phương pháp nhuộm từng phần hoặc những phương pháp khác có sức chịu đựng. Những loại vải nhuộm hết sức lộng lẫy được làm bằng một kỹ thuật chống sáp giống như cách nhuộm vải in hoa vùng Đông Nam Á. Những mẫu trang trí trên tất cả những loại vải sử dụng những mô típ quốc tế điển hình thuộc đời Đường - cuộc săn bắn trong mộtphong cảnh với ngựa và những con thú khác đang phi nước đại kiểu Scythia (h.399), hoặc những chủ nhân cung đình mập mạp, tròn trĩnh chơi những dụng cụ âm nhạc dưới những tán cây.

    Trong những loại lụa được dệt với những mẫu trang trí là những loại vải sa với những

    [​IMG]

    397. Bình. Đồ sứ Xing; cao 39,1 cm. Trung Quốc. Đời Đường. Bảo tàng Anh quốc. Luân Đôn.

    [​IMG]

    398. Shoso-in. Todai-ji, Nara, Nhật Bản. Mặt tiền. Thờikỳ Nara.

    [​IMG]

    399. Săn bắn trong một phong cảnh. Chi tiết một bìnhphong: lụa nhuộm in bông: cao 163,2 cm, Thời kỳNara, thế kỷ thứ 8. Shoso-in, Todai-ji, Nara.

    [​IMG]

    400. Tay dựa. Gỗ bọc gấm thêu kim tuyến: chimphượng hoàng trong những vòng tròn trangtrí hoa: cao 20 cm. Thời kỳ Nara. thế kỷ thứ 8.Shoso-in. Todai-ji, Nara.


    mẫu trang trí trừu tượng tuyệt đẹp khác nhau những loại gấm thêu kim tuyến phong phú với các trang trí quen thuộc những hình người, những vòng tròn được bao bọc trong những cành lá dây leo được nối kết những nhóm hoa bán trừu tượng; và những loại vải chéo go có cùng những mẫu trang trí nhưng thường với phong cách hoàn toàn Trung Đông. Những phần sau cùng này có liên hệ mật thiết với những loại vải chéo go với những vòng tròn có đường viền hình hạt trai bao quanh những nhóm huy hiệu. Một loại vải là những mảnh vải rách những loại vải khác được kết hợp ở những đồ vật chẳng hạn như gối, đồ dựa tay (h.400), giày, nhữnglớp vải lót của hộp đựng gương soi, y phục, bình phong, thảm rất nhiều ở chùa Shoso được làm bằng kỹ thuật ép lông của vùng Trung Ấn, với mẫu trang trí bằng những cụm hoa to lớn.

    Nhiều đồ vật kim loại cũng cho thấy nền văn minh quốc tế của thời đại. Một số bình,hũ... bằng đồng hoặc đồng mạ vàng đều có hình dáng và sự trang trí thuần túy Trung Hoa; những mẫu vật khác là những sự sao chép các đồ bạc và vàng Sasania, giống như nhiều cổ vật được phát hiện ở miền Nam nước Nga và ngày nay ở Hermitage, St.Petersburg. Có nhiều gương lớn mặt sau của chúng bằng đồng hoặc được bọc bạc hoặc vàng, khảm xà cừ (h.401). Tất cả đều được trang trí bằng những mẫu hoa văn Trung Quốc hoặc của vùng Trung Đông cócùng những kiểu cách như ở trên vải. Những đã và bình đựng nước có hình vẽ nổi cũng được tìm thấy.

    Các món đồ kim loại xuất sắc nhất của Trung Quốc là những chiếc bát khất thực to lớn bằng bạc của đạo Phật có chạm trổ những cảnh săn bắn. Những bát nhỏ hơn được người ta biết đến trong những cuộc khai quật ở Trung Quốc, những chiếc bát với kích cỡ to lớn và kỹ thuật hoàn thiện ở Shoso (h.402). Bố cục phong cảnh với những dãy núi thu nhỏ, và những nền hoa lá nằm rải rác, và nét trang trí đem lại hậu nền giống như thảm thêu trang trí chonhững người thợ săn và những con thú săn mồi đang phóng nước đại. Một chi tiết như thể là một bản sao theo đúng nguyên bản mô típ săn bắn hoàng gia Sasania được người ta nhìn thấy ở những chiếc đĩa chạm trổ hoặc điêu khắc nổi theo kiểu Ba Tư (h.403). Người cỡi ngựa chạy qua mặt con thú săn mồi và xoay mình trở lại dùng cung bắn con tợn lòi, khi đang ở trên lưng con ngựa phóng nước đại. Mô típ chắc chắn là của Sasania, nhưng tốc độ rõ ràng của những nhân vật chuyển động đạt được bởi sự lợi dụng những phương tiện đường nét đặc biệt trong hội họa Trung Hoa ở những chiếc bóng.

    Ngà voi cũng là một chất liệu được yêu thích, hầu như bị biến mất ở lục địa nhưng

    [​IMG]

    401. Gương soi tám thùy với mẫu trang trí hoa vàchim. Đồ đồng bọc sơn mài khảm vàng và bạc;đường kính 28,6 cm. Thời kỳ Nara, thế kỷ thứ 8.Shoso-in, Todai-ji, Nara.

    [​IMG]

    402. Bát khất thực chạm trổ cảnh săn bắn. Bạc;cao 49,9 cm. Thời kỳ Nara. thế kỷ thứ 8.Shoso-in, Todai-ji, Nara.


    [​IMG]

    403. Người đi săn và lợn lòi. Chi tiết của hình 402.

    [​IMG]

    404. Thước đo vớimẫu trang tríthú vật, chimvà hoa. Ngàđược chạmtrổ và nhuộmmàu: dài 29,5cm. Thời kỳNara. Shoso-in, Todai-ji,Nara.

    [​IMG]

    405. Bàn cờ (go).Gỗ trầmhương khảmhoa văn bằngngà, sừng nai; vuông 48.7cm. Thời kỳNara. Shoso-in, Todai-ji.Nara.


    [​IMG]

    406. Đờn kin trang tríhoa văn. Gỗ sơn mài khảmvàng và bạc (heidatsu);dài114,3 cm. Thời kỳ Nara.Shoso-in, Todai-ji, Nara.


    được duy trì ở kho báu Nara. Cùng với những tác phẩm mộc mạc có những quy tắc đánh giá mà những đơn vị đánh giá này được đánh dấu bằng những mẫu hoa văn trang trí chạm trổ và tô màu (h.404). Có những tác phẩm trình bày dâng tằng cho nhà vua hàng năm vào ngày thứ hai của tháng hai âm lịch. Những mẫu của chúng nhỏ hơn và trang trọng hơn những mẫu trang trí trên đồ kim loại, những con chim và thú vật thay đổi với hoa lá. Tất cả mô típ đều có cùng từ vựng trang trí quốc tế được ghi chú trên đồ vải và đồ kim khí. Người ta cũng dùng những loại gỗ quý để tô màu cho hoa văn bằng gỗ, ngà... dùng trang trí trên đồ gỗ, đặc biệt là những bàn chơi cờ và bàn ghế của triều đình.

    Sơn mài và gỗ sơn mài là một phương tiện của vùng Đông Á kể tứ cuối thời kỳ nhà Chu, và điều này khiến cho người ta không ngạc nhiên lắm khi chúng tạo nên một số đồ vật xinh đẹp nhất ở chùa Shoso. Những loại bình, hũ, gương soi và những đồ lật khác có trang trí hoa văn, khắc chạm, hoặc khảm sơn mài, nhưng một tác phẩm sơn mài nổi bật và phong phú nhất là một cây đàn bảy dây, được gọi là đàn kín, được trang trí bằng kỹ thuật heidatsu (h.406, 407).

    Những lá bạc và vàng được khắc chạm thành những mẫu hoa và người thật tinh xảo và được đính trên một nền gỗ sơn mài kỹ lưỡng. Toàn bộ bề mặt sau đó được phủ nhiều lớp áo sơn mài. Khi những lớp sơn mài này khô cứng chúng được đánh bóng cho tới khi những kim loại quý báu nổi lên trở lại, bằng với mặt phẳng của nền sơn mài. Kết quả đạt được là một trong những tác phẩm sơn mài tinh xảo và xinh đẹp nhất trong những tác phẩm sơn mài trên thế giới. Những mẫu hoa văn trang trí, bông hoa, sóng nước, và mây tạo nên một hậu cảnh,nổi bật với những hình ảnh chim, muông, và thú vật cùng với những nhạc công (cả thiên nhiên lẫn huyền thoại) được sắp xếp ở những khoảng cách đều nhau trên bề mặt của chiếc đàn. Một hình vuông ở đầu chiếc đàn được xử lý bằng một bức tranh với một bố cục cân xứng gồm có ba nhạc công chơi đàn và uống rượu trên một khung nền có hoa và chim ở dưới một cây đangtrổ hoa hai bên có những cây tre. Ở phía trên, trong bầu trời có mây, hai vị tiên cỡi chim phượng hoàng lướt trên những đám mây hoàn tất một sự bố trí cân xứng tinh vi.

    Kỹ năng bậc thầy đòi hỏi kỹ thuật heidatsu, bởi vì nhiều cây cỏ với chi tiết phức tạpđược chạm trổ trong một tác phẩm tứ những lá vàng hoặc bạc. Những mẫu hoa văn trang trí duyên dáng, hài hoà được kết hợp với vàng và bạc óng ánh mượt mà, tạo nên một vật tương ứng thưởng ngoạn bằng mắt với những âm thanh nhẹ nhàng lả lướt của chiếc đàn kin.

    Sự thử nghiệm với những vật liệu hấp dẫn lạ thường là một vấn đề. Một chiếc đàn tỳ bà(bia), một lần nữa ở trong một nhóm những nhạc cụ kỳ diệu, sẽ phục vụ để minh họa khía cạnh này của thiên tài đời Đường (h.408). Thân đàn kết hợp với loại gỗ trầm đỏ cho phần lưng và cổ và gỗ hạt đẻ cho phần mặt trước. Một miếng chặn phím hình vỏ sò được khảm xà cừ với hình ảnh người nhạc công chơi đàn tỳ bà trên lưng lạc đà trong một phong cảnh riêng rẽ được biểu thị bởi cây chuối lá ở giữa và một ít tảng đá cùng với những bông hoa. Những chi tiết chạm trổ trên xà cừ góp phần cho sự sinh động của cảnh vật và một mức độ hiện thực. ởphía lưng của nhạc cụ là một mẫu trang trí cầu kỳ với những đám mây cuồn cuộn, hoa, cảnhững con chim, những dải băng trong xà cừ chạm trổ được dát vàng và những chất màu và được khảm bằng một ít hổ phách. Ở Trung Quốc, chúng ta biết những kỳ công như thế chỉ qua những sự trình bày ở tranh họa hoặc từ một ít mảnh vỡ có khảm xà cừ.

    Chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa ngoại lai, và tính châm. biếm bằng cách mở rộng lànhững mối quan tâm đặc trưng của những họa sĩ đời Đường và thời kỳ Nara ở Nhật Bản. Nhiều chi tiết khác nhau và những hình ảnh phụ trong tác phẩm điêu khắc Phật giáo của thời kỳ chứng minh điều này. Nhưng sự thể hiện đặc biệt và rõ ràng nhất của mối quan tâm này được phát hiện trên nhiều mặt nạ gỗ và sơn mài được bảo quản ở chùa Horyu và chùa Todai và Shoso-in (h.409). Những mặt nạ gigaku này được sử dụng để nhảy múa trong các lễ hội Phật giáo, nhưng chủ ý và nguồn gốc của chúng mang vẻ thế tục hơn là thần thánh. Khônggiống như những mặt nạ của kịch no nhỏ và tinh xảo của những thời kỳ sau này, mà thông điệp của chúng chỉ dành cho số ít người, những mặt nạ gigaku phải gây ấn tượng về cá tính và tình cảm qua một khoảng cách đáng kể đến số người đông hơn; vì vậy kích cớ của chúng lớn hơn người thật và hình thái của chúng thường rất quá mức. Hầu hết những nhà văn đều đồng ý rằng những chiếc mặt nạ cũng như điệu múa mà chúng được thiết kế có nguồn gốcvùng Trung Á. Nhưng truyền thống này phần lớn có thể đề cập đến những kiểu cách mang tính chủng tộc, được trình bày với kiểu cách kỳ lạ mang nét đặc trưng đời Đường và cường điệu.Ấn tượng hiện thực của những cái đầu này được tăng lên nhiều bởi việc sử dụng tóc thật trên những cái sọ cũng như bộ râu, và đôi lúc ở trong tai và lỗ

    [​IMG]

    407. Đàn kin có hoa văn trang trí. Chi tiết của h.406.

    mũi. Tất cả đều được sơn vẽ bằng sắc màu giống như da thịt, và ở chỗ nào không dùng tóc thì người ta.dùng thủ thuật tô vẽ để thế vào. Những nét mặt được diễn tả từ giận dữ đến tươi cười, tứ xảo quyệt, thấp hèn đến khôn khéo, dịu dàng.

    Hai loại vật liệu quan trọng ở đời Đường, đồ gốm và ngọc, rất ít thể hiện ở những cổ vật trong đền Shoso, và đối với những loại vật liệu này, chúng ta phải nghiên cứu nhiều loại vật liệu tứ những cuộc khai quật và các bộ sưu tập của Trung Quốc. Một số ít đồ gốm ở Shoso là đồ đất nung tráng men tương tự với những mẫu vật khéo léo và tinh xảo được khám phá ở Trung Quốc. Những đồ đất nung tráng men chì như thế này, trong hình dáng những pho tượng người và thú vật hoặc những loại bình, lọ, hũ, tách, có ích lợi được sử dụng như đồ vật tùy táng (h.410).

    [​IMG]

    408. Nhạc công cỡi lạc đà đi ngang qua một phongcảnh hấp dẫn. Đàn tỳ bà; mai rùa khảm xà cừ; cao30,5 cm. Thời kỳ Nara. Shoso-in, Todai-ji, Nara.

    [​IMG]

    409. Mặt nạ Gigaku. Gỗ sơn mài; cao khoảng 29,9 cm.Thời kỳ Nara. Shoso-in, Todai-ji, Nara.

    [​IMG]

    410. Đĩa trẹt. Đồ đất nung tráng men nhiều màu. Trung Quốc. Đời Đường. Bộ sưu tập tư nhân, Tokio.

    Tính cách màu hổ phách, màu lục, vàng hoặc, hiếm hoi hơn nữa, màu xanh rực rỡ là hoàn toàn không giống những bức tranh một màu, hoặc đen trắng của triều đại nhà Tống tiếp theo, và được diễn giải bởi nhiều tính cách như là một sự phản ánh những tính cách thẩm mỹ của khu vực Tây Á. Tuy vậy, một bảng màu như thế tương đương với màu sắc rực rỡ phong phú ở tranh họa đời Đường và tác phẩm điêu khắc đa sắc. Giống như tất cả những khía cạnh khác của nền văn minh đời Đường, tính cách thẩm mỹ là sinh động và mạnh mẽ và được thể hiện bằng cách dùng màu sắc linh động và sắc nét trong những nền mỹ thuật.