Thảo luận Phong cách quốc tế của đời Đường ảnh hưởng từ Phật Giáo

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi luat.ngo, 20/10/15, [ Mã Tin: 27419 ] [413 lượt xem - 0 bình luận]

  1. luat.ngo

    luat.ngo (19 )

    BAN QUẢN LÝ (6)

    Chất lượng tạo thương hiệu - Uy tín giữ thành công - Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    SĐT :
    0945621800
    Zalo :
    0932355523
    Địa Chỉ :
    Tân Hòa Đông, P.Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP.HCM
    Gửi tin nhắn
    Nền mỹ thuật Phật giáo vào đời Đường (năm 618 - 907) có thể mô tả đúng là một phong cách quốc tế, so với phong cách của thời kỳ Lục Triều, nhưng là sự mở đầu không được đồng nhất lắm. Trong thời kỳ trước đó, Trung Quốc bị chia rẽ chính trị và hỗn loạn, và trong quy trình kết hợp những thành phần chủng tộc, xã hội và tôn giáo khác nhau. Triều Đại nhà Tùy đã hợp nhất đế chế vào năm 589, mất đi Mệnh Trời ở thế hệ thứ hai. Hoàng đế thứ hai của nhà Tùy có sự đánh giá yếu kém về những sự xâm chiếm của nước ngoài và những đề án xây dựng cưỡng bức lao động hàng loạt đã làm tổn thất vô số sinh mạng con người, đã bỏ trốn trước khi có những cuộc nổi loạn đồng loạt trong nước.

    Ngai vàng của ông ta đã bị một trong những vị tướng của ông ta chiếm lấy, và lập nên nhà Đường. Dưới thời nhà Đường, người Trung Hoa dựng nên một đế quốc hùng mạnh mở ra từ biển Caspian đến Thái Bình Dương, từ Mãn Châu và Triều Tiên ở phía Bắc và Việt Nam ở phía Nam. Chưa có một thời kỳ nào trước đó và sau này mà Trung Hoa lại đạt đến một nhà nước hùng cường như thế hoặc tác động ảnh hưởng lớn lao như thế. Kinh đô Trường An là một trong những kinh đô lớn nhất trên thế giới mà người ta trông thấy được từ trước đến nay. Sự đi lại giữa Đông và Tây gia tăng đáng kể dưới sự bảo vệ của một đế

    [​IMG]

    221. Các vị Bồ Tát. Bằng đá. Thiên Long Sơn. Sơn Tây, Trung Quốc. Đời Đường k.700.


    chế thống nhất và quyền lực quy về trung ương. Đế quốc phát triển những hình thức thống nhất và tinh xảo trong tính cách nghệ thuật, cũng như văn học và tổ chức xã hội của nó. Nó không phải là một thời Đại của Đức tin ban đầu, của lòng nhiệt tâm của người hành hương, mà của một chủ nghĩa thế giới đầy tự tin, do bởi sự quán triệt về thế giới và xã hội. Nhiều Đức tin nước ngoài được cho phép ở đời Đường Trung Hoa - Phật giáo, giáo phái Nestor(1), Cơ đốc giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo và Đạo thờ Thần Lửa. Cho đến giữa thế kỷ thứ 8, nhà Đường đi từ sức mạnh này đến sức mạnh khác trong đối nội lẫn đối ngoại suốt thế kỷ thứ chín, ngay cả sau cuộc nổi loạn dữ dội đã làm tan rã đế chế này từ năm 756 đến 763, Trung Quốc vẫn gây sự chú ý đối với những du khách nước ngoài như là đỉnh cao của những thành quả văn minh, hùng mạnh và thịnh vượng.

    [​IMG]

    222. Quan Âm với 11 đầu (mảnh vỡ). Sa thạch: cao 129,5 cm. Trung Quốc. Đời Đường, khoảng thế kỷ thứ 8. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.


    Các nguồn gốc của phong cách mỹ thuật Phật giáo đời Đường gồm có 3 phần: thứ nhất thuộc thời kỳ Gupta, Ấn Độ; thứ hai, nền tảng riêng biệt của nó thuộc thời kỳ Lục Triều và nhà Tùy; và thứ ba, phong cách vùng Trung Á và Trung Đông. Chưa bao giờ trước đây hoặc kể tứ khi đó lại có quá nhiều mô típ vùng Trung Đông xuất hiện ở nền mỹ thuật Trung Hoa, mặt khác, có rất nhiều mô típ của Trung Quốc du nhập vào vùng Trung Đông.

    Địa điểm điển hình cho nghệ thuật điêu khắc đời Đường là khu hang động của Thiên Long Sơn ở Sơn Tây. Đặc biệt ở hang 19 cho thấy tính tinh xảo nhất của phong cách do những điêu khắc gia đời Đường đạt được (h.221). Các yếu tố của nó thật rõ ràng. Nơi trước đây chúng ta thấy rõ lòng nhiệt tình đối với tôn giáo, về một sự trừu tượng và kỳ bí hơn về cách xử lý hình tượng, về mẫu trang trí Đường kẻ, và sự kéo dài, thì ở đây chúng ta nhận biết nhiều hơn về một phương cách giải quyết hợp nhất và thế tục. Tất cả mọi thành phần dường như hợp nhất lại thành một sự trọn vẹn liền lạc. Nghệ thuật làm những pho tượng mang tính cách xác thịt và khêu gợi, có lẽ chịu một phần ảnh hưởng phong cách Gupta của Ấn Độ. Các hình dáng tuôn chảy hòa trộn lẫn nhau; Đường cong, hình cầu và hình trụ thon hơn là những yếu tố cơ bản. Y phục gấp nếp không còn sử dụng nữa, như nó đã được thực hiện ở Bắc Tề và ngay cả triều nhà Tùy, được áp dụng trên bề mặt của khối ở phía dưới, nhưng được hòa hợp với cấu trúc của pho tượng trong một tính cách có vẻ tự nhiên. Sự kết hợp với một hình thức khêu gợi tinh xảo này, cùng với một sự quan sát về bản chất tự nhiên rõ ràng hiện thực, đó là những gì tạo nên phong cách nhà Đường.

    Một ít tác phẩm điêu khắc trên đá còn lại để làm điển hình cho phong cách hoàn hảo đã nhận thức đầy đủ những ý định phát triền sự tinh xảo nhất của những người tạc tượng đời Đường. Một trong những tác phẩm này là một pho tượng Phật Bà Quan Âm mười một đầu bằng sa thạch mịn hạt, có lẽ từ tỉnh Sơn Tây, mái ấm của Kinh đô nhà Đường, Trường An (h.222). Vị Bồ Tát này, một trong những vị thần cứu độ nổi tiếng nhất của Phật giáo Đại thừa, được thể hiện là một nhân vật nhân từ nhưng mang tính trần tục. Khuôn mặt tròn làm nền cho Đường nét hình học duyên dáng của nét mặt và một sự tương phản đối với tính cách hiện thực mạnh mẽ của những chiếc đầu “hung dữ” ở phía trên, những chiếc đầu thể hiện những khía cạnh ghê sợ của thần thánh trong sự bảo vệ con Đường đi đến sự cứu độ. Không còn dấu vết nào về cuộc đấu tranh cho sự đồng hóa phong cách nghệ thuật, thay vào đó là vẻ duyên dáng thanh thản.

    Dường như nó là một sự tổng kết của nét đặc trưng ở phong cách đời Đường về nghệ thuật nhìn và cảm nhận được khi sờ mó vào, một thứ ngôn ngữ được người ta nhận ra rất trọn vẹn có nguồn gốc từ một từ vựng mỹ thuật nước ngoài. Không một ai có thể nhầm lẫn tượng Quan Âm này với tượng Quan Âm (Avalokiteshvara) của thời kỳ Gupta. Mặc dù cùng những thuật ngữ có thể dùng để mô tả cho cả hai hình thức - dâm đục và trần tục, tuy thế lại xua đuổi được sự căng thẳng và đấu tranh.

    Phần lớn sự lý tưởng hóa được người ta nhận ra ở tượng Quan Âm này xuất phát từ một sự tôn kính đối với chủ đề. Những thành quả hiện thực và mãnh liệt hơn của các điêu khắc gia đời Đường có thể nhận ra được từ những công trình tưởng niệm đồ sộ, chẳng hạn như phần nền nhỏ của ngôi chùa hiện nay ở thành phố Kansas, trên mẫu vật này có sự hiện diện của những vị thần canh cửa và những con rồng giúp cho nghệ nhân thỏa thích trong truyền thuyết đầy sức tưởng tượng của người Trung Hoa trước thời kỳ Đạo Phật (h.223). Những hình thức khác nhau như thế cùng với sự thành thạo về kỹ thuật hết sức phù hợp với khuynh hướng thế tục nhà Đường Trung Hoa và thời kỳ này có thể sánh với thời kỳ Nara ở Nhật.

    Một trong những hang động được bảo quản tốt nhất ở Đôn Hoàng (hang 196) cho chúng ta thấy sự bài trí một bàn thờ đầy đủ, kích cỡ bình thường, bố cục phức tạp, nhưng đặc biệt được người ta quan tâm bởi sự tập trung những nhân vật người hầu nằm phía trên vị Phật, vị này có thể là Phật Thích Ca, hoặc có lẽ là Phật A Di Đà. Ở trong sự tụ tập hơi Đông đúc này nhưng sự bố trí lại cân xứng, mỗi nhân vật ở một bên này có nhân vật tương xứng ở phía bên kia. Phía trên đầu có một chiếc lọng được tô vẽ mô phỏng hàng dệt mà các kiểu dệt và mẫu trang trí của nó được thấy bảo quản ở Shosoin ở Nara. Ở trên bàn thờ, những tác phẩm điêu khắc được người ta bắt chước bằng đất sét nhiều màu, trên các bức tường và trần là những nhân vật được họa bằng lối vẽ tranh tường sắc nét, tất cả đều được tô màu rực rỡ. Sự kết hợp này tạo nên một cảnh tượng lạ thường gần như ảo giác, ở đây hình như các tác phẩm dường như là hội họa và những bức họa trở thành những vật phát ra đầy màu sắc từ các bề mặt phẳng. Vẻ lộng

    [​IMG]

    223. Nền Chùa. Bằng đá; cao 69,2 cm. Trung Hoa. Đời Đường, đầu thế kỷ thứ 8. Bảo tàng Mỹ thuật Nelson-Atkins, thành phố Kansas.

    [​IMG]

    224. Sơ đồ gốc Chùa Todai. Năm 745-752. Nara, Nhật Bản. Thời kỳ Nara.



    lẫy huy hoàng của nền mỹ thuật đời Đường như thế chắc hẳn đã gây ấn tượng cho tất cả khách hành hương, tu hành hay thế tục, và tạo niềm cảm hứng cho tất cả những ai muốn tìm hiểu nền mỹ thuật tôn giáo hết sức tinh xảo và đầy sức lối cuốn này.

    Phong cách Quốc tế đời Đường ở Nara, Nhật Bản

    Đạo Phật được hoan hỉ đón nhận ở Nara, Nhật Bản không đơn thuần như một Đức tin cá nhân mà như một phương tiện để củng cố sức mạnh cho triều đình chống lại các bè phái quý tộc tranh giành vào thời điểm khi quyền hành nhà vua vẫn còn lung lay và bị hạn chế về mặt địa lý. Bằng cách hào phóng đỡ đầu Phật giáo và các tu viện của nó, các nhân vật lãnh đạo Nhật Bản cầu khẩn sự bảo vệ của vô số quyền lực của Phật giáo Đại thừa Đà thần cho bản thân họ và mở rộng đến thần dân mà họ cai trị. Quá trình này cũng không hoàn toàn vì ích kỷ: dòng họ hoàng gia và những cố vấn của họ là những phật tử nhiệt tâm và mộ đạo, và họ nhận thức rõ ràng rằng sự đoàn kết, sự phục tùng và lòng trung thành có thể được thăng tiến bằng cách thể hiện bản thân họ như là những môn đồ chính và nổi tiếng của Đức tin phổ biến. Được hai động cơ này thúc đẩy, một số lượng lớn đền chùa được xây dựng và nhiều tượng được đúc.

    Chúng ta có thể thấy được sự phát triển vì đồ án kiểu đền chùa nhà Đường ở đền Todai, Nhật Bản (h.224), tên theo nghi lễ của nó là Đền Bảo Vệ Quốc Gia bởi sự sáng ngời của Tứ Đại Thiên Vương (bốn vị vua Trời), thể hiện hoàn hảo những khát khao của những người đỡ đầu thuộc dòng dõi hoàng gia - kích cỡ của nó to gấp 5 đến 6 lần những ngôi đền nhỏ chẳng hạn như đền Horyu. Chánh điện (kondo) nguyên thủy của Todai bằng kích cỡ một nơi để chứa một tượng Phật bằng đồng cao gần 2 mét. Gần như 20 mẫu đất được bao bọc bởi hành lang.

    [​IMG]

    225. Kondo (Đại sảnh vàng) chùa Toshodai. Nara, Nhật Bản. Thời kỳ Nara, k.759.



    Hai ngôi đền giống nhau theo lúc ban đầu có cổng ra vào nằm hai bên nhưng phía bên ngoài hàng rào vây quanh đã bị tàn phá, như vậy sự mở rộng đồ án vẫn tiến xa hơn. Sự nhân đôi như thế hiếm khi xuất hiện trong những sơ đồ bố trí của người Trung Quốc; một ngôi chùa lớn độc nhất, thường xây bằng gạch hay đá, là một nét đặc trưng trên lục địa.

    Nhà Đường và Nara là những xã hội tập trung và phát triển với kế hoạch kiến trúc của nó cũng như chính trị. Những công trình xây dựng đền chùa cá nhân cho thấy có cùng khuynh hướng mở rộng những khoảng đất có tường rào chung quanh. Hãy quan sát chánh điện (kondo) của khu đền Toshodai (h.225) tương phản với cùng công trình xây dựng ở khu đền Horyu (xem hình 213). Những kích cỡ có trật tự chặt chẽ của khu đền Horyu và khá nhỏ, sự phát triển chiều thẳng đứng của nó, và cảm giác nhẹ nhàng của nó được thu nhỏ lại bởi quy mô đồ sộ của công trình xây dựng sau này. Chánh điện (kondo) đền Horyu hoàn toàn được bao bọc; ở đền Toshodai có một sự mở rộng vào không

    [​IMG]

    226. (dưới) Nội thất Chánh điện chùa Toshodai. Nara. Nhật Bản. Thời kỳ Nara, k.759.



    gian với hình thức một chiếc cổng vòm. Điều này bị giới hạn bởi tác động qua lại về những đòi hỏi của xã hội và tôn giáo; ở

    [​IMG]

    227. Đức Phật Tối Cao (Vairochana) và những vị tùy tùng. Đá vôi; tượng chính với bệ can khoảng 13,4 m). Hang Fengxian (hang 19). Long Môn, Hà Nam, Trung Quốc. Đời Đường, hoàn tất năm 675.



    bất cứ nơi đâu, những bức tượng thiêng liêng không phải dành cho đôi mắt của người trần tục, nhưng ở khu đền Toshodai (tương phản với khu đền Horyu), quý tộc hoặc người giàu có có quyền ẩn thân để lắng nghe sách dạy lễ nghi. Không chỉ công trình xây dựng to lớn hơn vô hạn so với công trình xây dựng của thời kỳ trước đó, mà phần nội thất còn cho thấy một tính cách xử lý làm nổi bật và hợp nhất không gian (h.226). Ở đền Horyu, bàn thờ là có ý dùng để đi xung quanh theo nghi lễ truyền thống đi chung quanh nó. Ở khu đền Toshodai chỗ riêng biệt của bàn thờ nằm phía trước một bức màn, nó cho phép thực hiện nghi lễ đi vòng tròn nhưng khiến người ta tập trung chú ý vào quang cảnh phía trước của những pho tượng và bàn thờ. Một lần nữa, đây là một khái niệm về cách nhìn lôgíc và hợp nhất hơn trước đó. Những thành phần kiến trúc, những chiếc cột, và hầm rầm chìa thật công phu và đồ sộ. Cả hai ngôi đền đều sử dụng cùng một hệ thống màu: lớp đất sét trắng phủ tường, những bộ phận to lớn được xử lý bằng oxít đỏ, cửa sổ có lưới mắt cáo sơn màu xanh lá cây tươi mát, mái lớp ngói màu xám.

    Công trình kiến trúc ấn tượng nhất của đời Đường còn lại là nhóm tượng Vairochana ở hang 19 (hang Fengxian) ở Long Môn, chỉ một vài dặm phía nam của Kinh đô phía

    [​IMG]

    228. Mặt tiền của chùa Nanchan. Năm 782. Gỗ; cao khoảng 9,1 m, mặt tiền dài khoảng 13,7m. Ngũ Đài Sơn, Sơn Tây, Trung Quốc. Đời Đường.

    [​IMG]

    229. Bàn thờ. Chánh điện Phổ Quang Tự, Ngũ Đài Sơn. Sơn Tây. Trung Quốc. Đời Đường năm 857.

    Đông của nhà Đường, Lạc Dương ở Hà Nam (h.221). Pho tượng chính, Đức Phật Tối Cao cao 13,4 m, có các vị đệ tử, các vị bồ tát, và những vị thần bảo vệ hầu hai bên, các pho tượng xinh đẹp, oai nghiêm được chạm trổ khéo léo khiến cho người chiêm ngưỡng đầy cảm xúc mặc dù nó có kích cỡ khổng lồ. Không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì nhóm tượng là một mệnh lệnh do Hoàng đế Cao Tông ủy thác bắt đầu vào năm 672 và được hoàn tất năm 675. Ngay cả nữ hoàng tàn ác Võ Tắc Thiên cũng tham gia, đóng góp một số lượng đáng kể từ quỹ riêng của bà cho công trình kiến trúc khổng lồ này.

    Những pho tượng được sắp xếp như thể được bố trí trên một bàn thờ của một ngôi chùa đã được xây dựng. Lúc ban đầu, vách đá nhô ra sâu hơn nhiều và được bổ sung thêm bằng gỗ, như ở Vân Cảng qua bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khổng lồ thuộc thế kỷ thứ 5 (xem h.198), vì thế các pho tượng có vẻ thâm trầm kỳ bí. Tuy vậy, tình trạng hiện thời của hang động rất có ích cho việc nghiên cứu những phẩm chất điêu khắc tuyệt vời của nhóm tượng.

    Mặc dù còn lại một số ngôi chùa bằng đá và gạch của thời kỳ này, nhưng chỉ một số ít ngôi chùa bằng gỗ được gìn giữ ở Trung Quốc.

    Chiến tranh, thiên tai, và thời kỳ khủng bố Đạo Phật đã đem lại một sự tổn thất lớn lao, đặc biệt sự bài trừ Phật giáo của đế chế vào năm 842 - 845, lúc ấy có đến 4.600 ngôi chùa và 40.000 điện thờ bị phá hủy. Duy nhất một công trình xây dựng còn tồn tại sau năm 845, là chùa Nanchan năm 782, ở Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây (h.228). Nó là một công trình xây dựng đơn giản, cao khoảng 9,1 m với mỗi bên ba gian (chiều dài tổng cộng khoảng 13,7 m), có hình chữ nhật do bởi kéo dài gian giữa ở phía bắc và phía nam. Vẻ bề ngoài của nó thật quan trọng và có sức thuyết phục to lớn, đầy vẻ trang nghiêm là phong cách điển hình giữa đời Đường và tương phản với phong cách vui tươi nhẹ nhàng của cuối thời kỳ Lục Triều được chứng tỏ ở điện thờ Tamamushi ở đền Horyu (xem h.214) không có bất cứ chiếc lọng nào che kín phần thiết kế bằng gỗ trên bàn thờ, sự bố trí cân xứng của nó khiến người ta nhớ lại hang động Fengxian (hang 19) ở Long Môn, được sáng tạo hơn một thế kỷ trước đó.

    Cũng như ở Ngũ Đài Sơn là chính điện của Phổ Quang Tự năm 857. Đây là công trình xây dựng to lớn hơn nhiều từ 7 đến 9 gian, cao khoảng 16 m với mặt tiền hơn 32m. Ngoài ra có nhiều rầm chìa hơn và những tường không liền dày hơn phù hợp với tập quán của người Trung Quốc, chính điện của Phổ Quang Tự (h.229) giống rất nhiều với chính điện của khu đền Toshodai (h.225). Giống như ở đền chùa Nhật Bản (h.226), có một trần nhà hình vòm che đi phần gỗ xây dựng và một bức hoành phi nằm phía sau các pho tượng trên bàn thờ.

    Chúng la đã thấy được một nhóm bàn thờ; bây giờ chúng ta hãy quan sát một số tác phẩm điêu khắc quan trọng đặc biệt. Chắc chắn mẫu vật đáng quan tâm nhất thuộc phong cách đầu nhà Đường là tác phẩm điêu khắc Di Đà Tam Tôn bằng đồng của Nhật Bản trong điện thờ Tachibana, lấy tên của một phu nhân giàu có thuộc dòng dõi quý tộc đã dâng cúng điện thờ cho khu đền Horyu (h.230). Nó có niên Đại từ năm 700. Đây là tác phẩm khoảng 80 năm sau khi khởi đầu thời Đại nhà Đường ở Trung Quốc; nhưng nền nghệ thuật Nhật Bản theo phong cách Trung Quốc luôn luôn gánh chịu sự chậm trễ về thôi gian, và như vậy tác phẩm Di Đà Tam Tôn thể hiện phong cách nhà Đường đầu thế kỷ thứ 7: Nó được làm bằng đồng mạ vàng và được đặt trong một trang thờ bằng gỗ cùng thời kỳ. Ba phần chủ yếu tạo thành bố cục: một bệ thờ phẳng, một bức hoành phi trong hình thức một bức tranh bộ ba, và ba tượng chính, đứng hoặc ngồi trên những tòa sen vươn lên từ chiếc bệ bằng đồng. Toàn.bộ cao khoảng 65cm và đáng chú ý là một nhóm tượng hoàn hảo có kích cỡ khá lớn, với chiếc bệ đầu tiên của nó và phông nền. Những pho tượng riêng rẽ có phẩm chất tương tự có lẽ người ta tìm thấy ở Nhật hoặc hiếm hoi hơn, ở Trung Quốc, nhưng để tìm được một tác phẩm còn nguyên vẹn như thế này thật là phi thường.

    Ngay ở giữa là Phật A Di Đà ngồi trên một tòa sen, hai vị Bồ tát đứng hầu trên tòa sen ở hai bên. Tay phải của Đức Phật bắt ấn cầm hoa sen, mỗi vị bồ tát đưa tay lên làm ấn chứng cam đoan. Cách thể hiện này vẫn còn hơi cứng ngắc, nhưng là ở phong cách đầu nhà Đường, trực tiếp tuân theo sự truyền bá từ những phong cách từ cuối thời kỳ Lục Triều và nhà Tùy. Mặc dù những ấn chứng thật duyên dáng và mang tính tự nhiên thanh thoát truyền lại cho những khuôn mặt và những thành phần của bộ y phục gấp nếp, các pho tượng vẫn hướng ra phía trước mặt và một sự cứng ngắc nào đó thể hiện rõ trong lối y phục gấp nếp, ở những bộ điệu, và đặc biệt, ở phần miệng của bức tượng ở giữa.

    Bức hoành phi bộ ba nằm phía sau các bức tượng chính được thực hiện bằng nghệ thuật điêu khắc chìm xinh đẹp nhất, phạm vi từ những bề mặt hầu như ngang bằng với nền kim loại cho đến việc gây ấn tượng mạnh với hình thức điêu khắc nổi, ngoại trứ ở những tượng Phật nhô bên trên, hiếm khi cao hơn một phần mười sáu của một insơ (inch) hoặc tương tự như thế tứ bề mặt (h.231). Và tuy thế, trong hình thức này chính nghệ thuật điêu khắc nổi này lại là một thành quả to lớn. Sự thể hiện được diễn tả bằng tranh ảnh ở trong cái ấn tượng tổng quát của nó; mọi thứ đều tuôn chảy không chút ràng buộc, nhịp nhàng và uyển chuyển tuyệt vời hơn nhiều so với ba tác phẩm điêu khắc chính, như thể nó là một sự chuyển tiếp của hội họa sang kim loại. Ngang qua phần dưới cùng của tấm hoành phi, những con bạch tuộc cuộn những chiếc vòi của chúng quanh những cọng hoa sen trên đó có những vị thiên thần Đàng ngồi. Những con bạch tuộc liên kết với bức hoành phi theo chủ đề với phần bệ; tượng trưng một chiếc hồ, bố cục giống như bức hoành phi ở hình thức điêu khắc chìm.

    [​IMG]

    230. Di Đà Tam Tôn của điện thờ Tachibana. Bằng đồng; chiều cao tượng chính 33,3cm. Horyu-ji, Nara, Nhật Bản. Thời kỳ Nara, đầu thế kỉ thứ 8.

    [​IMG]

    231. Bức tranh sau lưng Di Đà Tam Tôn của điện thờ Tachibana. Chi tiết của hình 230.



    Tính cân xứng theo nghi thức chi phối bố cục. Tính không cân xứng điển hình của Nhật Bản tà một sự phát triển sau này, bố cục này vẫn mang tính thuần túy Trung Hoa. Tượng A Di Đà có vầng hào quang chóp nhọn, được biểu hiện bởi những ngọn lửa ở ngay phía trên đỉnh của bức hoành phi. Một mẫu trang trí hình móc và đám mây kỳ lạ nằm trong những Đường viền của chiếc đã lớn hơn khiến người ta nhớ lại nó giống rất nhiều với hình thức cuối thời kỳ Lục Triều, những hình móc và hình xoắn ốc của cuối Đời nhà Chu dát đồng. Phần giữa của vầng hào quang là ở trong hình dáng của một đóa hoa sen; sự làm cân bằng của đóa hoa sen với mặt trời là cơ bản trong nghệ thuật mô tả bằng hình tượng. Những đợt sóng nhỏ nằm phủ đầy với những chiếc lá sen gợn lăn tăn trong hình thức điêu khắc chìm ở trên bề mặt của chiếc bệ, tứ đó những cuống sen to lớn xoắn với nhau vươn lên để chống đỡ ba pho tượng chính (h.232). Mặc dù ba pho tượng chính có ba kích cỡ, nhưng khuynh hướng giống nhau là diễn tả bằng tranh ảnh, cho thấy ở đây ảnh hưởng của Trung Quốc, nơi nghệ thuật điêu khắc thưởng nghiêng về những ấn tượng diễn tả bằng tranh ảnh.

    Một mẫu vật xuất sắc của phong cách giữa Đời Đường hoặc cổ điển ở Nhật Bản là ba tượng đồng được giữ ở đền Yakushi (h.233). Những tác phẩm điêu khắc bằng đồng có quy mô lớn như thế, ngày nay ở Trung Quốc không còn nữa, nhưng một ít nhóm ở Nhật Bản là mẫu vật siêu đẳng của các phong cách từ lục địa đã được lặp lại trung thực. Yakushi là tên một vị Phật Dược Sư, đôi khi là một trong những vị Phật của Bốn Phương, và vật biểu tượng của ngài là một bình dược thảo, ngài thường giữ nó trong lòng một bàn tay. Pho tượng chính của chánh điện ở đền Yakushi là tượng Phật Dược Sư ngồi, hai bên có hai vị bồ tát thường được đề cập như các vị Bồ Tát Mặt Trăng và Mặt Trời. Chúng là những tượng

    [​IMG]

    232. Bệ thờ Di Đà Tam Tôn ở Điện thờ Tachibana. Chi tiết của hình 230.



    [​IMG]

    233. Dược sư Tam Tôn. Năm 726. Đồng. Tượng Dược Sư cao 2,5 m. Dược Sư Tự. Nara, Nhật Bản. Thời kỳ Nara.

    rất lớn, cao khoảng 3 mét, một phạm vi không còn mở rộng ở Trung Quốc nữa. Vầng hào quang của chúng rất hiện Đại, với mẫu trang trí với một đám mây vần vũ, nét đặc trưng của các tác phẩm sau này, nó tương phản với tính chất thô lỗ và hung hăng bằng sự trang nhã trong phong cách của những pho tượng. Thời gian đã biến đổi đồ đồng thành màu đen hơi lục, và nó tỏa sáng như thể được lau bóng bằng dầu. Những tượng bồ tát không mang nét cứng ngắc ở phía trước mặt nữa mà ở tư thế có hông này thấp hơn hông kia, với một dáng vẻ uyển chuyển nhẹ nhàng, một chân này hơi co lại và chân khác duỗi mạnh ra phía trước. Y phục gấp nếp của những vị này rủ xuống một cách thoải mái hơn thời kỳ trước đó; sự xử lý các bàn tay tròn hơn và đầy đặn

    [​IMG]

    234. Nikko (Bồ Tát Mặt Trời). Bằng gỗ; cao 46,7 cm. Nhật Bản. Đầu thời kỳ Heian, k.800. Bảo tàng Nghệ thuật Cleveland.

    [​IMG]

    235. Vua Trời. Sơn mài khô; cao 3m. Sangatsu-do của chùa Todai, Nara, Nhật Bản. Thời kỳ Nara, đầu thế kỷ thứ 8.



    hơn, và thân hình cũng mang vẻ trần tục. Những sự quan tâm đến Đường kẻ trong y phục và khuôn mặt vẫn được duy trì, nhưng đôi môi đầy đặn và tròn trịa hơn, không trừu tượng và nhọn. Khuôn mặt đã trở nên hơi béo phì, tương phản với khuôn mặt dài và dẹt của đầu thời kỳ Lục Triều và đầy đặn và đều của nhà Tùy và đầu nhà Đường. Toàn bộ ấn tượng thật kích thích những cảm giác mang tính thế tục.

    Sự chuyển tiếp từ cuối thời kỳ Nara đến phong cách tiếp theo của thời kỳ Heian (k.800) người ta có thể nhận thấy ở pho tượng bồ tát trầm lặng Nikko Bosatsu (Bồ Tát Mặt Trời), được chạm trổ từ một súc gỗ thủy tùng Nhật Bản (h.234). Mặc dù hơi kém đồ sộ so với những pho tượng vào giữa thời kỳ Nara ở đền Yakuchi, sự mượt mà của nó và y phục gấp nếp gợn sóng kết hợp với phần thân tượng tinh xảo tạo cho pho tượng gần như hoàn hảo về phước báu và lòng bi mẫn.

    Một tác phẩm điển hình bằng sơn mài khô người ta có thể chọn lựa mà không pho tượng nào sánh bằng là một trong 4 pho tượng lớn về vua Trời Đế Thích hay Tứ Đại Thiên Vương (những vị vua canh giữ bốn phương Trời) ở Sangatsu-do (Hokke-do) ở đền Todai (h.235). Kỹ thuật sơn mài khô được sử dụng ở đây khác lạ. Trên một khuôn bằng đất sét thô người ta đắp những lớp vải nhúng hoặc phết sơn mài, mỗi lớp được để cho cứng lại trước khi đắp lên lớp kế tiếp. Những lớp phía trong thường bằng vải gai dầu và những lớp phía ngoài bằng lụa mịn hoặc hiếm khi bằng vải lanh mịn. Khi hình dáng giống hệt với ý muốn mà người ta đã tạo nên bằng lớp vải mỏng quét sơn mài, một lớp sơn mài khô áo phía ngoài - một lớp bột nhão sơn mài có thể làm

    [​IMG]

    236. Bonten (Brahma). Đất sét: cao 2,1 m. Sangatsu-do của Chùa Todai. Nara, Nhật Bản. Thời kỳ Nara, đầu thế kỷ thứ 8.


    khuôn, mạt cưa, và bột hồ - được đắp vào, và đây là hình dáng chính xác để đúc khuôn. Khi khô, người ta có thể hoàn tất nó bằng cách tô màu hay mạ vàng. Cuối cùng, khuôn đất sét được moi ra và được thay thế bằng một cái cốt bằng gỗ. Đôi khi, thật đáng buồn, người ta thay thế sơn mài khô bằng một loại bột nhão vữa xtucô, điều này làm giảm giá trị nhanh chóng. Sự kết hợp hai thủ tục này - sự tạo dựng hình dáng đầy khó nhọc về những lớp vải và sơn mài, với việc tô sửa qua lần cuối cùng được thực hiện bằng vật liệu dẻo tạm thời - tạo những chi tiết mượt mà trên một nền tảng không thay đổi, một nét đặc trưng kết hợp của tác phẩm nghệ thuật bằng sơn mài. Hiển nhiên kỹ thuật phải chịu những hình ống chi phối, và như vậy các chi (tay chân) dường như là những hình trụ và tăng thêm sự cứng ngắc của dáng vẻ vốn có trong phương tiện, do bởi pho tượng bốc một lớp vỏ. Nói cách khác, những chi tiết như là sự mô phỏng

    [​IMG]

    237. Nhà sư Ganjin. Sơn mài khô; cao 80,6cm. Người sáng lập chùa Toshodai, Nara, Nhật Bản. Thời kỳ Nara, giữa thế kỷ thứ 8.


    những Đường gân trên những bàn tay, nét nhăn của lỗ mũi, hoặc phần lồi ra của lông mày, được hoàn thiện bằng chất dẻo với trạng thái lỏng gây ấn tượng về hình dáng mang tính hình học. Người ta có thể hỏi tại sao một kỹ thuật mất thời giờ như thế lại được sử dụng. Các lý do thường được người ta chấp nhận nhất đó là những pho tượng kiểu này thưởng nhẹ nhàng, dễ dàng xử lý và di chuyển, và không dễ bị mối, mọt tấn công. Chắc chắn nó là phương pháp khó khăn khi thực hiện nghệ thuật điêu khắc, và ở Trung Quốc chỉ còn có ít mẫu vật tồn tại và thường bị hư hỏng. Chúng ta phải tìm những tác phẩm điêu khắc to lớn hoàn hảo bằng sơn mài khô ở Nhật Bản.

    Vào đời Đường, nhiều tượng cũng được đúc khuôn bằng đất sét, và để có một cảm tưởng tốt đẹp về kỹ thuật này chúng ta xem xét trở lại Nhật Bản và chiếc bàn thờ cao của Sangatsu-do (Hokke-do). Ở đó, hai bên hông pho tượng chính Fukukensaku Kannon, là hai pho tượng tượng trưng cho Bonten (Sanskrit: Brahma: Phạm Thiên) và Taishakuten (Sanskrit: Indra: Vua Trời Đế Thích). Chúng to bằng kích cỡ người thật, và nặng kỳ lạ do bởi chúng là đất sét cứng rắn. Ở những pho tượng này (h.236), trạng thái lỏng của việc xử lý khuôn mặt, quần áo gấp nếp, và cái nơ con bướm từ vòng thắt lưng phản ánh tính dễ uốn nắn của đất sét mềm, ở đây chúng được đúc khuôn, một đặc tính người ta không thể đạt được ở gỗ hay đồng. Điệu bộ của các pho tượng, với đôi bàn tay gấp lại với nhau, đôi mắt nhìn xuống đã khiến chúng trở thành mối quan tâm đặc biệt đối với những nhà nhiếp ảnh, và chúng trở thành hai trong những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của Hokke-do. Từ Trung Quốc, chúng ta đã có những tượng đất sét nung tùy táng và những pho tượng từ Đôn Hoàng, đôi khi thuộc tỉnh lẻ, nhưng thường trình bày những sự bài trí bàn thờ phức tạp của người Trung Quốc trong những bộ phận lắp ráp xinh đẹp và bảo quản tốt, như chúng ta đã từng trông thấy ở hang 196.

    Một pho tượng Nara khác thể hiện sự kết hợp ý tưởng thế tục - trong trường hợp này là tính dữ tợn - với sự sợ hãi tôn giáo, điều này dường như thật điển hình của đời Đường và phong cách của nó.

    Thân hình uốn éo và chiếc hông cong, quần áo gấp nếp rủ xuống quanh pho tượng, những lỗ hở trong lớp y phục này, và những cơ bắp căng cứng của chiếc cổ được kết hợp trong một tính cách tóm tắt được những mối quan tâm sôi nổi của những nhà điêu khắc đời Đường. Pho tượng bằng cỡ người thật ở phía sau bức hoành phi của Hokke-do mô tả sinh động thần sấm (shukongojin). Một khái niệm có thể so sánh với pho tượng thiên thần Michael báo thù ở nghệ thuật mô tả bằng hình tượng của Cơ đốc giáo; đe dọa những kẻ làm việc ác và ma quỷ, là vị thần bảo vệ Đức tin. Pho tượng là một vật kỳ bí, được giữ trong chỗ thờ tự đóng kín và chỉ được mở vào những dịp hiếm hoi. Nhưng sức mạnh kỳ bí của nó vẫn tiếp tục phát ra tất cả mọi hướng, dù ngay cả ở phía trong nơi thờ tự.

    Sự minh họa cuối cùng của tác phẩm điêu khắc thuộc phong cách Quốc tế Phật giáo đời Đường giới thiệu một phạm trù mới: bức chân dung, được thực hiện bằng sơn mài khô và nhiều màu (h.237). Nhà sư Ganjin là một người Trung Quốc mù, sáng lập khu đền Toshodai tuyệt vời, một pho tượng hàng đầu trong lịch sử đầu tiên của khu đền Todai, và cũng là một người được công nhận có uy tín về nền văn hóa thế tục Trung Quốc. Tượng của ông ta, giống như tượng của các nhà sư khác, nổi tiếng về sự thiêng liêng và những thành quả của họ, được cho là một sự hỗ trợ cho sự thờ cúng và sống chân chính. Làn da pho tượng có vẻ hơi vàng. Cặp lông mày được tô vẽ cũng như bộ râu mép và bộ râu quai nón mọc lún phún, nhưng không có những nét này thì nó cũng thật khác biệt so với những kiểu mẫu sau này mang phong cách hiện thực của người Nhật. Giống như hầu hết những tượng chân dung đời Đường, pho tượng tác động chúng ta về một kiểu mẫu riêng biệt hay tổng quát. Từ thời nó được sáng tạo, tượng chân dung của nhà sư Ganjin có ảnh hưởng rất nhiều đối với nền mỹ thuật Nhật Bản, và nghệ thuật điêu khắc chân dung thuộc thời kỳ Kamakura chịu một mức độ cảm hứng nào đó từ nó.

    Nền hội họa Phật giáo ở đời Đường, ở Trung Quốc lẫn thời kỳ có thể so sánh được ở Nhật, bao gồm hai khổ chủ yếu: tranh tường và tranh cuộn treo tường (có thể cuộn lại mang theo)...Tranh tường được trang trí trong các đền chùa hoặc nội thất của hang động, và được vẽ bởi những nghệ nhân vô danh hoặc những họa sĩ nổi tiếng xuất sắc. Một trong những tên tuổi tài danh nhất ở trong hội họa Trung quốc đó là truyền thuyết về Wu Daozi (hoạt động k. 710 - 760), người sáng tạo tranh tường Phật giáo và vang danh là nhà danh họa tuyệt vời nhất Trung Quốc. Do bởi các tác phẩm của các nhà danh họa hầu như đã biến mất, chúng ta phải tìm kiếm phong cách hội họa đời Đường ở những tác phẩm của các nghệ nhân vô danh. Phong cách tranh tưởng đời Đường

    [​IMG]

    238. Tây Phương Cực Lạc. Tranh tường. Đôn Hoàng, Cam Túc, Trung Hoa. Đời Đường nửa sau thế kỷ thứ 8.


    xinh đẹp và tinh xảo nhất lại ở Nhật Bản, nhưng có hàng ngàn tranh tường hay bích họa ở một số địa điểm xa xôi, hẻo lánh ở Trung Quốc. Địa điểm quan trọng nhất của tất cả những nơi này là trung tâm hành hương và trung tâm phân phối Đôn Hoàng mà chúng ta đã đề cập đến trước đây. Sự trình bày về cõi Tây Phương Cực Lạc, với Phật A Di Đà có hai vị Bồ Tát chính hầu hai bên, nhiều vị tiểu bồ tát và những vị thần khác của cõi Cực Lạc, là từ nơi này (h.238). Hầu hết các vị thần đều ngồi trên một Đài cao, có những chiếc lọng nhẹ, hai bên có những đền thủy tạ và phía trước có một hồ sen với những bục, nơi này một buổi ca múa Đàng diễn ra. ở một phía bên khác, những chiếc bục cao vươn lên có những vị thần khác của cõi Tây Phương Cực Lạc. Toàn bộ là một sự mô phỏng lại bằng tranh của những đoạn của kinh Sukhavati Vyuha và Amitayus Dhyana Sutra, những bộ kinh Phật mô tả cõi Tây Phương Cực Lạc và những niềm hoan lạc ở đó cùng với Phật A Di Đà.

    Khi chư vị đã trông thấy pho tượng ngồi, sức tưởng tượng về cảnh vật của chư vị sẽ trở nên rõ ràng, và chư vị sẽ có thể nhận thấy rõ ràng và khác biệt về sự tô điểm của xứ Phật đó, vùng đất có nhiều châu báu ngọc ngà, v.v... Khi nhìn thấy những sự việc này, hãy để cho chúng rõ ràng và cô đọng lại như khi nhìn thấy lòng bàn tay của mình. Khi chư vị trải qua sự cảm nhận này, chư vị sẽ hình thành xa hơn [một sự nhận thức về] một đóa hoa sen tuyệt vời hơn rằm phía bên trái Đức Phật, và chính xác ngang bằng với đóa hoa sen của Đức Phật đã được đề cập ở trên. Hãy nhận thức rằng một hình ảnh Quan Thế Âm Bồ Tát Đàng ngồi trên một tòa sen bên tay trái, phóng ra những tia hào quang vàng rực rỡ giống như tia hào quang vàng của Đức Phật. Tuy vậy ngoài ra, chư vị nên có một [sự nhận thức về] một đóa hoa sen bên phải Đức Phật. Rồi hãy nhận thức rằng một hình ảnh Bồ Tát Mahasthama (Bodhisattva Mahasthama) Đàng ngồi trên tòa sen bên tay phải.

    Khi những sự nhận thức này đạt được từ những hình ảnh của Đức Phật và các vị Bồ Tát tất cả sẽ phát ra những tia hào quang rực rỡ, làm sáng ngời lên tất cả những cây châu báu, ngọc ngà cùng với màu vàng ròng. Ở phía đước mỗi cây cũng có ba đóa hoa sen. Trên mỗi đóa hoa sen cũng có một hình ảnh của Đức Phật hoặc của một vị Bồ Tát; như vậy [những hình ảnh của các vị Bồ Tát và Phật] được người ta thấy khắp nơi ở xứ Phật. Khi đạt dược sự nhận thức này, người tín đồ sẽ nghe thuyết giảng bài Pháp tuyệt vời bằng phương tiện của đòng nước, một tia sáng rực rỡ, một vài cây châu báu, ngọc ngà, vịt, ngỗng, và thiên nga. Dù người này nhập thiền hay xuất thiền, ông ta sẽ mãi mãi nghe bài Pháp tuyệt vời...

    Người tập phương pháp thiền này thoát khỏi mọi tội lỗi [ngược lại nó sẽ cuốn hút người này vào] vòng sinh tử luân hồi muôn lượng kiếp (Kalpas), và trong cuộc sống hiện tiền này, vị này đạt được Thiền định (Samadhi) nhờ tưởng nhớ đến Đức Phật.

    Và một lần nữa, này Ananda, những chúng sinh đã sinh ra và sẽ tái sinh trong cõi Sukhavati đó sẽ được ban cho ánh sáng, màu sắc, sức mạnh, khí lực, chiều cao, hơi thở, quyền thế, vô số công Đức như thế, cùng với sự thụ hưởng như và quần áo, đồ đạc trang hoàng, vườn cảnh cung điện, với những sự thụ hưởng như là thinh, hương, khí, vị và xúc; nói tóm lại tất cả mọi sự thụ hưởng và.. những niềm hoan lạc, chính xác giống như các vị thần hay các vị trời paranirmitavasavartin...

    Và một lần nữa, này Ananda, trong cõi Sukhavati dó, khi buổi ban mai đến, những ngọn gió thổi mạnh làm rung chuyển khắp 4 hướng. Và chúng làm đong đưa những cành cây ngọc ngà nhiều màu sắc và xinh đẹp và tiết ra những hương thôn ngát của cõi trời, như vậy với hàng trăm đóa hoa xinh đẹp với hương thơm bát ngát rơi rụng xuống trần thế, tất cả đầy là châu báu ngọc ngà. Và với những bông hoa này mà đất Phật trang hoàng khắp mọi phía ngập sâu đến 13 mét.

    Tông phái Tịnh Độ của Phật giáo Đại thừa, với Phật A Di Đà và cõi Tây Phương Cực Lạc của nó, thu hút Đà số dân chúng đời Đường, và nghệ thuật mô tả bằng hình tượng là Đức tin tôn giáo điển hình của thời kỳ này. Nó vạch ra một con đường khá dễ dàng đến sự cứu độ: để được tái sinh vào cõi Tây Phương Cực Lạc người ta chỉ đơn thuần thờ cúng Phật A Di Đà với Đức tin. Tranh tường, trong lúc nó trình bày cõi Tây Phương Cực Lạc của A Di Đà, cùng một lúc diễn tả khái niệm về hàng giáo phẩm và một điều gì đó về tư tưởng thế tục của chính phong cách đời Đường. Bố cục hoàn toàn cân xứng, hương về trung tâm, những nhân vật chính to lớn và cao hơn những nhân vật phụ . Cùng lúc nó nhấn mạnh những khuynh hướng yêu thích hoan lạc của Tây Phương Tịnh Độ và minh họa những điều này với những cảnh tượng chắc hẳn đã diễn ra trong cung điện của hoàng đế Trung Hoa. Ví dụ, ở phần cận cảnh trình bày những nhạc công cung đình và ở giữa họ là những vũ công có nguồn gốc Ấn Độ đang trình diễn trên một sân khấu cung đình, phong cách kiến trúc xuất phát từ kiểu cách cung điện của nhà Đường. Ở đường viền của bức tranh là sự mô tả theo phong cách kể chuyện với những câu chuyện về cuộc đời Phật Thích Ca hay ở bộ Kinh Liên Hoa. Một bức ảnh làm biến đổi những giá trị các màu sắc do những nhân vật đã bị oxi hóa thành 4 màu đen mà thực sự chúng có những chất màu nhạt hơn; dù sao đi nữa, những màu sắc thực tế đã chuyển sang màu đen theo thời gian.

    Một mẫu điển hình của những bức họa xách tay to lớn hơn của đời Đường là bức họa trên vải dầu gai nổi tiếng ở Bảo tàng Mỹ thuật Boston. Nó được gọi là biểu đồ hoa sen hay bức tranh hoa sen (Hokke Mandala), nguồn gốc của nó ở Hokke-do, hoặc Sangatsu-do của đền Todai. Nó trình bày hình ảnh Phật Thích Ca, các vị Bồ Tát cùng với những nhà sư trong một khung cảnh xinh đẹp. Sự bố trí những nhân vật điển hình của Tây Phương Cực Lạc nằm ở giữa một phong cảnh sang trọng lộng lẫy là khác thường, mặc dù tranh phong cảnh đặc biệt phát triển rất nhanh trong đời Đường, và đã dẫn đến nhiều cuộc tranh cãi là tranh của người Trung Quốc hay của người Nhật. Người ta cho rằng tranh của người Trung Quốc nhưng có những sự bổ sung và những phục chế của người Nhật. Tuy thế, với quan điểm mới nhất dựa trên sự phân tích cẩn thận về bức tranh cho thấy nó vẫn còn tình trạng nguyên thủy không có việc sơn sửa lại, đem lại một sự bổ sung nào đó cho sự tranh cãi đó là tranh của người Nhật. Nếu như vậy, nó chắc hẳn là một mẫu vật vào thế kỷ thứ 8 hoặc đầu thế kỷ thứ 9 theo phong cách đời Đường ở Nhật Bản. Phần bố cục khá cân đối với một nhân vật ở giữa và kèm những nhóm tương tự ở hai bên. Trong những nhóm này chúng ta nhận thấy những sự khác biệt ngay trên bức họa này, cùng với bố cục về phong cảnh, cho thấy một sự tuân thủ ít cứng ngắc hơn những bức tranh về cõi Tây Phương Cực Lạc của khu vực Đôn Hoàng hoặc những họa phẩm tương tự.

    Một tranh cuộn treo tường khác của Phật giáo thuộc thế kỷ thứ 9, nhưng của người Trung Quốc, là một phần tranh bị rách vẽ bằng mực tàu và màu trên lụa được Aurel Stein khám phá vào năm 1907 ở Đôn Hoàng. Ở phía trên cao bên phải bức họa mang một tựa đề: Bồ Tát Người Tiếp Dẫn thần thức. Ở tay phải, bồ tát cầm một lư hương, ở tay trái ngài cầm một đóa hoa sen trắng và một cây phướn bằng vải kim tuyến màu trắng; những lư hương và phướn như thế, có niên Đại từ thời kỳ Nara, vẫn tồn tại ở các đền thờ Nhật Bản. Bồ tát Đàng cứu độ một thần thức, lướt nhẹ trên những đám mây hoặc những cơn gió nhẹ xuyên qua một trận mưa hoa nhè nhẹ (biểu tượng sự thiêng liêng) hướng đến những lâu Đài của Tây Phương Cực Lạc ở phía trên cao bên trái. “Thần thức” là một phụ nữ, tròn trịa, thanh lịch ăn mặc đúng thời trang giữa đời Đường - một mẫu người chúng ta sẽ gặp lại ở những bức tranh thế tục đời Đường. Chúng ta đã từng gặp những vị bồ tát theo kiểu mẫu này ở trong nền nghệ thuật điêu khắc đương thời, cũng như những nhân vật theo hầu ở tác phẩm Tam vị Phật bằng đồng của đất Dược Sư Tự (h.233).

    Nhưng những khuôn mẫu cổ điển - những khuôn mẫu tuyệt vời nhất của phong cách hội họa nhà Đường là những tranh tường của đền Horyu, hiện nay đã bị hư hỏng nặng bởi một trận hỏa hoạn (h.239). Các bạn sẽ nhớ lại chánh điện của nó có những tranh tường ở nội thất mô tả các cõi Cực Lạc hay Tịnh độ ở Bốn phương. Những nơi này quay về 4 hướng, với một sự khác biệt được yêu cầu theo sự bố trí những cửa sổ và cửa cái của kondo, nó cần thiết có sự bố trí lại các bức tranh tượng chính và những bức tranh mô tả các vị bồ tát. Người ta họa những bức tranh tường trên những vách tường bằng đất sét được chống đỡ bằng lưới tre treo các cột của chánh điện. Chúng được vẽ với khá nhiều màu, phần lớn đã bị phai thậm chí trước khi bị hư hại. Đường parabôn tạo nên khuỷu tay, đường cong đảo ngược của cẳng tay, những đường vòng cung của chiếc cổ và của khuôn mặt, hoặc đường thẳng của sống mũi dường như chứng tỏ rằng những họa sĩ có một ý niệm hình học về những đường biên và ngay cả việc sử dụng một sức ép trên cây bút lông hay cây cọ vẽ (h.240). Cùng lúc, đường nét này thật tinh xảo ở chỗ nó dùng hình thức biểu lộ chiều sâu bằng chính đường kẻ của nó, hoặc bằng

    [​IMG]

    239. Di Đà Tam Tôn. Tranh tường; cao 3m. Chánh điện chùa Horyu, Nara. Nhật Bản. Thời kỳ Nara. k.710. Bị tàn phá năm 1949. Di sản của Bảo tàng chùa Horyu, Nara.


    cách chuyển một Đường nét này thành một Đường nét khác. Đây là một phương sách cực kỳ điêu luyện, nhưng hơi có chút quy ước. Những nét đặc trưng tổng quát về những hình dáng của các pho tượng là có thể so sánh với những nét đặc trưng mà chúng ta đã ghi nhận trong nghệ thuật điêu khắc đời Đường. Những hình dáng tròn và đầy khêu gợi, trần tục, có một sự chuyển động nhẹ nhàng đối với cơ thể; khuôn mặt hơi chút béo phệ; toàn thể ấn tượng của sự kết hợp trần tục và tâm linh này làm hài lòng kẻ đả phá tín ngưỡng lẫn người tôn sùng.

    Khổ tranh khác quen thuộc trong đời Đường là tranh cuộn cầm tay, có thể là phương tiện chủ yếu để truyền bá phong cách đời Đường và nghệ thuật mô tả bằng tranh đến tận nơi cách xa Trung Quốc và Nhật Bản. Tranh cuộn cầm tay trình bày chữ viết lẫn tranh ảnh của người tu hành hay người trần đều giống nhau. Nhưng tranh cuộn, đôi lúc dài đến 9m hoặc 12 m, có thể cuộn lại dễ dàng trong áo choàng hoặc hành lý. Đôi khi được mở ra 0,3m hoặc 0,6 m để đọc, với đoạn văn ở dưới và phần minh họa ở phía trên, chúng cung cấp một “thánh kinh” đã được làm sáng tỏ cho người mới khai tâm và chưa được khai tâm. Những tranh cuộn cầm tay của Phật giáo được bảo quản tốt nhất và danh tiếng ở phong cách đầu tiên là Kinh minh họa Nhân và Quả (Kako Genzai E-Inga Kyo), còn tồn tại ở một số tranh cuộn và

    [​IMG]

    240. Đầu của vị Bồ Tát, trong tranh Di Đà Tam Tôn. Chi tiết của hình 239.



    những mảnh rời rạc ở Nhật Bản. Đoạn văn được viết theo hàng dọc bình thường, ở một phong cách bảo thủ, dễ đọc và tinh xảo. Các phần minh họa ở bên trên thể hiện một phong cách hơi tỉnh lẻ; chúng không linh hoạt như tranh tường của đền Horyu hoặc một số mảnh rời rạc của những bức tranh ở Đôn Hoàng, nhưng màu sắc của chúng - những màu cam rực rỡ, màu xanh lục malachite, màu vàng và màu xanh azurite - truyền đạt tính trần tục dục lạc, nét đặc trưng của phong cách đời Đường và góp phần làm nên sự duyên dáng tuyệt vời của chúng. Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng các khuôn mặt bầu bĩnh và y phục xuất phát từ những kiểu cách của Trung Quốc và Trung Á. Cảnh tượng tường thuật lại cuộc tấn công của Ma Vương là một trong những sự kiện chính về tiến trình đạt được sự giác ngộ của Đức Phật (xem h.126).

    Mặc dù với phong cách tỉnh lẻ, và khái niệm hơi mộc mạc, vẫn có một luồng không khí sống động và quan tâm đến thế giới - không chỉ ở hình thức kể chuyện thuộc về tôn giáo mà còn có những cảnh vật và những chuyện đời thường. Nó là những quy ước nổi bật để lộ ra tính cách tỉnh lẻ. Người họa sĩ hay nghệ nhân đơn thuần chỉ thực hiện vài nét chấm phá bằng một vệt màu xanh lá cây để chứng tỏ một vùng phủ đầy cỏ; tính ước lệ này xuất phát từ phong cách Trung Quốc ở đây người ta thực hiện nó cẩn thận hơn vào những mẫu vẽ chồng lên nhau chứng tỏ sự giảm chiều sâu. Ở đây người ta chỉ sử dụng một hình thức trang trí rải rác trên mặt đất. Cây cối cũng cho thấy một sự xử lý theo ước lệ hơn là dựa trên sự quan sát thiên nhiên. Nghệ thuật vẽ người vào thời điểm này ở Trung Quốc và Nhật Bản phát triển hơn hội họa phong cảnh: Nguồn gốc phong cách hội họa ở hình thức tranh cuộn cầm tay về Kinh Nhân Quả này thật hết sức rõ ràng: Nó đến từ phong cách giống như tranh biếm họa ngây ngô cũng được người ta nhận ra ở những hành lang phụ ở các tranh tường của Đôn Hoàng và những mảnh vỡ được tìm thấy trong thư viện ở đây (h.241).

    Có hai sự mở rộng xa nhất của phong cách Phật giáo quốc tế đời Đường – Đôn

    [​IMG]

    241. Đức Phật đản sanh, tính từ những cảnh tượng về cuộc đời Phật Thích Ca. Mảnh Đường viền của một mandala lớn; mực tàu và màu trên vải; rộng 16,2 cm. Đôn Hoàng, Cam Túc, Trung Quốc. Đời Đường. Bảo tàng Quốc gia, New Delhi.


    [​IMG]

    242. Hoàng tộc người rợ tôn kính Đức Phật Tương truyền của Triệu Quang Phô. Tranh cuộn cầm tay; mực tàu và màu trên lụa; cao 28,6cm, dài 103,5 cm. Trung Quốc. Đời Bắc Tống. Bảo tàng Nghệ thuật Cleveland.

    Hoàng ở tây bắc Trung Quốc, và xa đến tận phía Đông nước Nhật. Về mặt phong cách nghệ thuật, những nhân vật ở Đôn Hoàng hầu như giống hệt với những nhân vật ở Kinh Nhân Quả, đặc biệt hình ảnh nhỏ bé lõa thể của Đức Phật và cây xanh. Hãy lưu ý rằng ở Trung Quốc, ngay cả ở một khu vực tỉnh lẻ giống như Đôn Hoàng, tranh phong cảnh, với những ngọn đồi, những dãy núi lùi xa và những đỉnh núi nằm xa xa tuyệt vời, có vẻ điêu luyện hơn thành quả mà những họa sĩ không chuyên của người Nhật đạt được về tranh cuộn cầm tay nhỏ bé.

    Những gì mà những sự sáng tạo tranh cuộn cầm tay tuyệt vời của Phật giáo từ những trung tâm đô thị giống như chúng, ta chỉ có thể tưởng tượng từ những mẫu vật duyên dáng của tỉnh lẻ còn lại này hoặc tứ những mẫu vật của Trung Quốc ở những niên Đại lui về sau này, được vẽ bởi những bậc thầy truyền thống ở trong tính cách cuối nhà Đường (h.242).

    Phong cách quốc tế đời Đường thời kỳ Silla thống nhất

    Nhiều xứ sở nhỏ hơn sống ở trong cái bóng của đế chế nhà Đường hùng mạnh, ác là Triều Tiên, một đất nước vừa mới thống nhất bởi Silla (thời kỳ Silla thống nhất, năm 668 - 935) đã sáng tạo nên một bản sao gần gũi nhất về những cơ chế và nền văn hóa của nhà Đường. Mối quan hệ của hai quốc gia dựa trên một không gian gần kề, trên vị thế tự trị nhưng phải cống nộp, và trên những mối liên kết sâu sắc mật thiết giữa những thiết lập nền tảng đạo Phật tương ứng, tất cả đều phục vụ cho sự đua tranh xa hơn của Triều Tiên với Trung Quốc và để làm chất xúc tác cho một thôi Đại hoàng kim lâu dài cả thế kỷ trong nền văn hóa Triều Tiên. Các sứ thần Triều Tiên hàng năm từ kinh đô nhà Đường trở về quê hương đem theo sự hiểu biết và những thành quả cùng những sự đồi mới của nhà Đường. Một số lớn những Phật tử Triều Tiên, người tại gia cũng như các nhà sư, nâng cao ảnh hưởng của họ cũng như kiến thức của họ bởi những thời kỳ nghiên cứu kéo dài ở Trung Quốc. Nền văn học phong phú của Triều Tiên đều được viết bằng tiếng Trung Quốc. Như đời Đường ở Trung Quốc, tư tưởng Khổng giáo gắn bó với hệ thống chính trị lẫn giáo dục, dù vậy những lệ thường hành chánh của người Trung Quốc đã được sửa đổi nhiều ở xã hội dựa theo tầng lớp thống trị của người Triều Tiên. Tuy vậy, đặc tính nổi trội là Phật tử và Phật giáo là sự thúc đẩy chính và nền tảng cho

    [​IMG]

    243. Phật A Di Đà ngồi. Niên Đại năm 706. Vàng; cao 12,2 cm. Của Hwangbok Sa, Kyongju, Triều Tiên. Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc, Seoul.



    những thành quả của thời kỳ Silla thống nhất ở các lĩnh vực nghệ thuật. Giống như nền mỹ thuật Nhật Bản vào thời kỳ Nara, nền mỹ thuật của Triều Tiên vào thời kỳ Silla thống nhất phản ánh sự nổi bật của phong cách Quốc tế đời Đường.

    Sự xuất sắc của truyền thống Triều Tiên ở nghệ thuật làm đồ vàng được thực hiện qua sự ủy thác quan trọng của Phật giáo, chẳng hạn như bức tượng Phật A Di Đà bằng vàng, sự đúc khuôn và thực hiện thật xuất sắc theo phong cách thuần túy đời Đường (h.243). Tượng này được phát hiện ở phía trong một hũ đựng cốt mạ vàng trong một ngôi chùa Hwangbok Sa ở Kyongju và niên Đại được ghi trên hũ cốt này khoảng năm 706.

    Những vật đúc to lớn bằng sắt theo phong cách giữa nhà Đường cũng được bảo quản tốt, gồm luôn tượng Phật Thích

    [​IMG]

    244. Quang cảnh phòng ngoài và phòng chính, Sokkuram. Đền hang; xây dựng bằng đá granite. Pulguk Sa. Kyongju, Triều Tiên. Thời kỳ Silla thống nhất, k.774.


    Ca ngồi tứ Powon Sa ở Sosan, bây giờ ở Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc. Pho tượng bất hủ này cho thấy những pho tượng bằng kim loại mà nhà Đường đã mất đi (được sử dụng một cách mới lạ cho điêu khắc) giống như thế nào.

    Hầu như không còn tồn tại những tượng Phật lớn bằng đồng, nhưng một chiếc chuông đồng vĩ Đại cao hơn 3 m, đúc vào năm 771 để tưởng nhớ Vua Songdok, ở Bảo tàng Kyongju ngày nay. Với những vị thiên thần quỳ gối khắc chạm chìm tinh vi trong những đám mây và những Đường viền bông hoa theo phong cách nhà Đường, nó được xem là xuất sắc với sự thông hiểu về kỹ thuật cũng như về tính quy mô tuyệt đối và là một trong những kỳ quan thế giới của kỹ thuật đồ đồng.

    Địa điểm Phật giáo đầu tiên và thú vị nhất ở Triều Tiên là đền chùa bắt chước hang động, thực sự được xây dựng bằng đá granite, trên một đỉnh đồi nằm phía trên chùa Pulguk Sa, gần kinh đô của thời kỳ Kyongju. Được bắt đầu bởi một vị thượng thư, ông này cũng là người đảm nhận việc xây dựng đền Pulguk Sa, và được nhà nước hoàn tất sau khi ông ta qua đời năm 774, Sokkuram là một quần thể kiến trúc độc đáo nhưng về mọi mặt nó nằm trong kế hoạch điêu khắc của nhà Đường.

    Một phòng tiền sảnh nhỏ hình chữ nhật được trấn giữ bởi các vị thần bảo vệ - hai ông Thiện, bốn vị tứ Đại Thiên Vương (những vị trời của bốn hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc) và tám con quỷ bảo vệ. Các con quỷ mà Tứ Đại Thiên Vương đứng lên trên là những pho tượng lạ thường, và có nguồn gốc có thể tứ những tranh điêu khắc nổi bí ẩn về các vị thần đất trên bệ của tượng đồng Phật Dược Sư ở đền Yakushi- ji (xem h.233).

    Một hành lang hẹp nối với phòng nhỏ này dẫn đến một Đại sảnh hình tròn ở đây có một tượng Phật Thích Ca ngồi cao khoảng 2 mét, được chạm trổ hoàn hảo. Tuy vậy, một điều khác thường là vầng hào quang của Đức Phật được chạm trố riêng biệt trên bức tường phía sau ngài. Mười lăm bức tranh điêu khắc nổi trên bức tường hình tròn mô tả các vị thần như Brahma (Phạm Thiên), Indra-vua Trời Đế Thích, ba vị bồ tát, cùng với mười vị đệ tử đầu tiên của Phật Thích Ca (h.244). Một trong những vị bồ tát là Quan Âm mười một đầu, một hình thức rất hiếm thấy ở Triều Tiên. Ở phía trên những tranh tượng điêu khắc nổi này có những hốc tường sâu lúc ban đầu có 10 pho tượng cho mỗi hốc, nhưng nay chỉ còn 7 tượng bồ tát ngồi và ngài Vimalakirti (Duy Ma Cật). Nghệ thuật khắc chạm ở Sokkuram không chỉ rõ ràng và linh hoạt mà còn giúp cho chất lượng của đá góp phần vào ấn tượng thẩm mỹ.

    Triều Tiên đã tạo một ảnh hưởng to lớn chi phối nền văn hóa Nhật Bản vào thế kỷ thử 7, còn nhà Đường Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thử 8 là thời cực thịnh về nghệ thuật, xã hội và chính trị đã định hướng rõ ràng cho sự sáng tạo nghệ thuật ở khu vực Đông Á. Cả Triều Tiên lẫn Nhật Bản đều hưởng lợi trực tiếp từ Trung Quốc bởi Đường bộ, Đường thủy và có thể tham gia vào sự thành công về phong cách quốc tế thật sự của nó.
     

Người dùng tìm thấy trang này bằng cách tìm kiếm cho:

  1. minh họa kinh a di đà