Xe Sau đây sẽ là một số kiến thức cơ bản nhất về hệ thống chuyển hướng của xe.

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi THẾ GIỚI ĐỒ CỔ, 31/5/16, [ Mã Tin: 45230 ] [209 lượt xem - 0 bình luận]

  1. THẾ GIỚI ĐỒ CỔ

    THẾ GIỚI ĐỒ CỔ (5 )

    Tổng Quản (2)

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây !!!!!!

    SĐT :
    0922121289
    Địa Chỉ :
    BÌNH TÂN - HCM
    Gửi tin nhắn
    Sau đây sẽ là một số kiến thức cơ bản nhất về hệ thống chuyển hướng của xe.

    Khi các bánh xe trước không đi theo cùng một hướng. Để chiếc xe chuyển hướng êm dịu, mỗi bánh xe cần phải đi theo một đường tròn khác nhau.


    Bởi vì bánh xe bên trong chuyển động theo một vòng tròn có bán kính nhỏ hơn, việc quay vòng khó khăn hơn so với bánh xe phía ngoài.

    lai-xe-1.jpg

    Cơ cấu lái bánh răng xuất hiện và rất nhanh được sử dụng phổ biến trên các xe. Một bánh răng được nối với một ống kim loại, một thanh răng được gắn trên một ống kim loại. Một thanh nối với hai đầu mút của thanh răng.

    Ban_kinh.jpg
    Bánh răng tròn được nối với trục tay lái. Khi bạn xoay vành tay lái, bánh răng quay làm chuyển động thanh răng. Thanh nối ở hai đầu thanh răng được gắn với một cánh tay đòn trên một trục xoay.

    Banh_dan.jpg Chuyển đổi chuyển động xoay của vành tay lái thành chuyển động thẳng cần thiết để làm đổi hướng bánh xe, cung cấp một sự giảm tốc, tăng lực để làm đổi hướng các bánh xe dễ dàng và chính xác hơn.

    Tuy nhiên, một tỉ số truyền cao sẽ không hiệu quả bằng tỉ số truyền thấp. Tỉ số thấp hơn sẽ tạo cho tay lái phản ứng nhanh hơn, bạn không cần xoay nhiều vành tay lái khi vào cua gấp, và đây chính là một đặc điểm có lợi cho các xe đua.

    Tỉ số truyền của hộp tay lái là tỉ số biểu thị mối quan hệ của góc quay vành tay lái với góc mà bánh xe đổi hướng.

    Hệ thống lái bánh răng-thanh răng có trợ lực

    Sodo_troluc.jpg
    Ở hệ thống lái này. Một phần của thanh răng có chứa một xi lanh và một piston luôn ở vị trí giữa. Piston được nối với thanh răng. Có hai đường ống dẫn chất lỏng ở hai bên của piston. Một dòng chất lỏng (thường là dầu thuỷ lực) có áp suất cao sẽ được bơm vào một đầu đường ống để đẩy piston dịch chuyển, hỗ trợ thanh răng chuyển dịch. Như vậy, khi bạn đánh lái sang bên nào thì cũng có sự hỗ trợ của hệ thống thuỷ lực sang bên đó.

    Chi_tiet_HTLai.jpg
    Một khối kim loại có một đường ren rỗng trong đó. Bên ngoài khối kim loại này có một vài răng ăn khớp với một vành răng. Vành tay lái được nối với một trục có ren và ăn khớp với các rãnh ren trên khối kim loại nhờ các viên bi tròn. Điều này đã làm cho bánh răng ăn khớp với khối kim loại này quay và dẫn đến di chuyển các cánh tay đòn làm các bánh xe chuyển hướng.

    Ecubi.jpg
    Chiếc êcu ăn khớp với khối kim loại nhờ các viên bi tròn. Các bi này có hai tác dụng: một là nó giảm ma sát giữa các chi tiết. Thứ hai, nó làm giảm độ rơ của cơ cấu. Độ rơ xuất hiện khi đổi chiều tay lái, nếu không có các viên bi, các răng sẽ rời nhau ra trong chốc lát gây nên độ dơ của tay lái.

    Bơm thuỷ lực

    Bom_tro_luc.jpg

    Bơm này được dẫn động bằng mô men của động cơ nhờ truyền động puli - đai. Nó bao gồm rất nhiều cánh gạt (van) vừa có thể di chuyển hướng kính trong các rãnh của một rô to. Khi rô to quay, dưới tác dụng của lực ly tâm các cánh gạt này bị văng ra và tì sát vào một không gian kín hình ô van. Dầu thuỷ lực bị kéo từ đường ống có áp suất thấp (return line) và bị nén tới một đầu ra có áp suất cao. Lượng dầu được cung cấp phụ thuộc vào tốc độ của động cơ.

    Ket_cau_Tro_luc.jpg

    Hệ thống trợ lực lái sẽ hỗ trợ người lái. Khi người lái không tác động một lực nào, hệ thống không cung cấp bất cứ một sự hỗ trợ nào.

    So_do.jpg

    Thanh xoắn là một thanh kim loại mỏng có thể xoắn được khi có một mô men tác dụng vào nó. Thanh xoắn nối với vành tay lái còn đầu dưới nối với bánh răng hoặc trục vít, vì vậy toàn bộ mô men xoắn của thanh xoắn cân bằng với tổng mô men người lái sử dụng để làm đổi hướng bánh xe.
    Thanh xoắn cũng làm xoay đầu ra của cơ cấu lái, nối với bánh răng hoặc trục vít phụ thuộc vào kiểu hệ thống lái.

    Khi thanh xoắn bị vặn đi, nó làm bên trong của van ống xoay tương đối với phía ngoài.

    Khi vành tay lái không có tác động, cả hai đường ống thuỷ lực đều cung cấp áp suất như nhau cho cơ cấu lái.

    Hệ thống lái trợ lực điện (Electric Power Steering)

    lai-xe-2.jpg

    1. Vô lăng (lực tay đánh lái)
    2. Mô tơ trợ lực điện
    3. Phản lực từ mặt đường lên lốp xe
    1+2. Trợ lực khi đánh lái

    Nguyên lý hoạt động của hệ thống lái trợ lực điện : Cảm biến mô men có tác dụng đo mô men đánh lái (độ biến dạng của thanh xoắn) từ đó gửi tín hiệu về hộp điều khiển. Căn cứ vào tín hiệu của cảm biến mô men hộp điều khiển đưa ra dòng điện điều khiển mô tơ trợ lực đủ lớn để hỗ trợ việc xoay trục tay lái theo chiều của người lái điều khiển, vì vậy lực đánh lái sẽ được hỗ trợ và trở lên nhẹ hơn rất nhiều.

    Khi so sánh hệ thống lái trợ lực điện với hệ thống lái trợ lực thủy lực:

    Tuy có nhiều ưu điểm nhưng nhược điểm lớn nhất khi hỏng các chi tiết bên trong cụm trợ lực thì cần phải thay toàn bộ cụm trợ lực mà không nên sửa chữa để đảm bảo an toàn khi lái xe, không bị mất lái đột ngột.
    • Hệ thống lái điện không cần dẫn động từ động cơ nên động cơ không phải mất công suất lai sẽ tiết kiệm 2%-3% nhiên liệukhi hoạt động.
    • Hệ thống lái điện không sử dụng môi chất (dầu thủy lực) dẫn động trợ lực nên đảm bảo vệ sinh môi trường hơn.
    • Hệ thống lái điện có kết cấu đơn giản, gọn nhẹ hơn rất nhiều so với lái thủy lực.
    • Hệ thống lái điện cho cảm giác lái thật hơn ở tốc độ cao.
    • Trợ lực lái điện nhẹ và nhạy hơn so với trợ lực lái thủy lực.