Lịch sử Việt Nam – Quốc hiệu và Cương vực qua các thời đại (Phần IV) : Thời kỳ thống nhất lãnh thổ với quốc

Xem trong 'Làng Kiến Thức' đăng bởi luat.ngo, 21/9/15, [ Mã Tin: 25990 ] [1,251 lượt xem - 0 bình luận]

  1. luat.ngo

    luat.ngo (19 )

    BAN QUẢN LÝ (6)

    Chất lượng tạo thương hiệu - Uy tín giữ thành công - Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    SĐT :
    0945621800
    Zalo :
    0932355523
    Địa Chỉ :
    Tân Hòa Đông, P.Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP.HCM
    Gửi tin nhắn
    1. QUỐC HIỆU VÀ CƯƠNG VỰC NƯỚC TA DƯỚI TRlỀU NGUYỄN (1802-1945)

    a. Giai đoạn độc lập (1802-1862)

    Gia Long (1802-1819) tức Nguyễn Ánh, sau khi dứt được Tây Sơn, liền phái Lê Quang Định sang Trung Quốc cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt. Nhà Thanh chỉ nhận đổi quốc hiệu là Việt Nam và phong cho Nguyễn Anh là Việt Nam Quốc Vương (1804) . (Bản đồ 29)

    [​IMG]

    Toàn quốc khi ấy chia làm 23 trấn và 4 dinh:

    Bắc Thành gồm 11 trấn:

    5. nội trấn:
    1. Sơn Nam Thượng
    2. Sơn Nam Hạ
    3. Sơn Tây
    4. Kinh Bắc
    5. Hải Dương

    6. ngoại trấn:
    1. Tuyên Quang
    2. Hưng Hóa
    3. Cao Bằng
    4. Lạng Sơn
    5. Thái Nguyên
    6. Quảng Yên

    Gia Định Thành gồm 5 trấn:
    1. Phiên An (địa hạt Gia Định)
    2. Biên Hòa
    3. Vĩnh Thanh (Vĩnh Long và An Giang)
    4. Định Tưòng
    5. Hà Tiên

    Miền Trung gồm 7 trấn:
    1. Thanh Hóa
    2. Nghệ An
    3. Quảng Ngãi
    4. Bình Định
    5. Phú Yên
    6. Bình Hòa (sau là Khánh Hòa)
    7. Bình Thuận

    Kinh Kỳ thống quản 4 dinh:
    1. Quảng Đức dinh (sau là Thừa Thiên)
    2. Quảng Trị dinh
    3. Quảng Bình dinh
    4. Quảng Nam dinh
    (Bản đồ 30)

    [​IMG]

    Từ năm 1805, bắt đầu công cuộc lập địa bạ cho mỗi xã thôn trên toàn quốc, làm từ Bắc vào Nam. Đây là một công việc vĩ đại.

    Dân số Việt Nam, ở niên đại 1802 đầu đời Gia Long, có khoảng 5.780.000 người.

    Minh Mệnh (1820-1840) chủ trương tập quyền, chia cương vực ra làm 30 tinh và 1 phủ Thừa Thiên thuộc Kinh Kỳ.

    1. Phủ Thùa Thiên
    2. Lạng Sơn
    3. Quảng Yên
    4. Cao Bằng
    5. Tuyên Quang
    6. Thái Nguyên
    7. Bắc Ninh
    8. Hải Dương
    9. Hưng Hóa
    10. Sơn Tây
    11. Hà Nội
    12. Nam Định
    13. Hưng Yên
    14. Ninh Bình
    15. Thanh Hóa
    16. Nghệ An
    17. Hà Tĩnh
    18. Quảng Bình
    19. Quảng Trị
    20. Quảng Nam
    21. Quảng Ngãi
    22. Bình Định
    23. Phú Yên
    24. Khánh Hòa
    25. Bình Thuận
    26. Biên Hòa
    27. Gia Định
    28. Định Tường
    29. Vĩnh Long
    30. An Giang
    31. Hà Tiên.
    Đến năm 1836 thì Minh Mệnh hoàn thành công cuộc lập địa bạ trên toàn quốc (hiện còn lưu giữ được 10.044 tập gồm khoảng 15.000 quyển Địa bạ). Đó là một sưu tập vô giá để mô tả cương vục nuớc ta ở từng ngôi làng, từng mảnh ruộng đất.
    Năm 1838, Minh Mệnh đổi tên nuớc là Đại Nam hoặc Đại Việt Nam .
    Dân số Việt Nam ở cuối đời Minh Mệnh năm 1840 có khoảng 7.764.128 người.

    Thiệu Trị (1841-1847).

    Tự Đức (1847-1883). Về đại thể, cho đến năm 1862, vẫn giữ nguyên tổ chức hành chính như trên.

    b. Từ khi bị Pháp đô hộ (1862-1945)

    Quân Pháp đánh phá Đà Nang năm 1858, chiếm Sài Gòn năm 1859. Huế phải ký nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây. Năm 1883, Pháp chiếm Bắc Kỳ, rồi Huế và miền Trung. Các ngôi vua triều Nguyễn sau Tự Đúc đều mất quyền tự chủ, việc chính trị phải theo Pháp xếp đặt:

    1. Dục Đức (1883)
    2. Hiệp Hòa (1883)
    3. Kiến Phước (1884)
    4. Hàm Nghi (1884-1885)
    5. Đồng Khánh (1885-1888)
    6. Thành Thái (1889-1907)
    7. Duy Tân (1907-1916)
    8. Khải Định (1916-1925)
    9. Bảo Đại (1925-1945)

    Pháp bỏ quốc hiệu Việt Nam, Đại Nam hay Đại Việt Nam, và chia cương vực nước ta thành ba kỳ với ba chế độ khác nhau. Đó là:

    Annam hay Trung Kỳ
    Tonkin hay Bắc Kỳ
    Cochinchine hay Nam Kỳ

    Bắc Kỳ gồm 27 tỉnh và 2 thành phố:

    1. Thành phố Hà Nội
    2. Thành phố Hải Phòng
    3. Bắc Giang
    4. Bắc Ninh
    5. Hà Đông
    6. Hải Dương
    7. Hà Nam
    8. Hưng Yên
    9. Kiến An
    10. Nam Định
    11. Ninh Bình
    12. Phúc Yên
    13. Phú Thọ
    14. Quảng Yên
    15. Sơn Tây
    16. Thái Bình
    17. Thái Nguyên
    18. Tuyên Quang
    19. Vĩnh Yên
    20. Yên Báy
    21. Bắc Cạn
    22. Cao Bằng
    23. Hà Giang
    24. Hòa Bình
    25. Lạng Sơn
    26. Lào Kay
    27. Lai Châu
    28. Móng Cáy
    29. Sơn La

    Trung Kỳ gồm 16 tỉnh:
    1. Nghệ An
    2. Hà Tĩnh
    3. Thanh Hóa
    4. Quảng Trị
    5. Quảng Bình
    6. Thừa Thiên
    7. Quảng Ngãi
    8. Bình Định
    9. Phú Yên
    10. Nha Trang
    11. Phan Rang
    12. Quảng Nam
    13. Phan Thiết
    14. Đồng Nai Thượng
    15. Kontum
    16. Darlac

    Nam Kỳ gồm 20 tỉnh, 3 thành phố và 1 khu đảo:
    1. Thành phố Sài Gòn
    2. Thành phố Chợ Lớn
    3. Thành phố Vũng Tàu
    4. Khu đảo Côn Lôn
    5. Rạch Giá
    6. Hà Tiên
    7. Gò Công
    8. Châu Đốc
    9. Sóc Trăng
    10. Gia Định
    11. Long Xuyên
    12. Vĩnh Long
    13. Tây Ninh
    14. Sa Đéc
    15. Chợ Lớn
    16. Thủ Dầu Một
    17. Cần Thơ
    18. Bạc Liêu
    19. Biên Hoa
    20. Mỹ Tho
    21. Trà Vinh
    22. Bà Rịa
    23. Tân An
    24. Bến Tre.

    Tính chung Bắc Kỳ có 37 phủ, 88 huyện, 38 châu. Phủ không còn quản huyện như xưa. Nơi nào to gọi là phủ, nơi nhỏ gọi huyện. Châu cũng như huyện, nhưng ở các vùng có dân tộc thiểu số. Gồm 1.264 tống, 10.105 xã, 29 mường, 2.141 bản. Mường và bản cũng chỉ đặt ở những nơi có đồng bào dân tộc. Trên vùng biên giới lại có 4 đạo quan binh.

    Tính chung ở Trung Kỳ có 3 đạo (đạo cao hơn phủ), 33 huyện, 58 huyện, 541 tổng và 9.093 xã. Có 6 thành phố là Thanh Hóa, Vinh, Huế, Đà Nẵng (nhượng cho Pháp), Qui Nhơn và Đà Lạt.

    Tính chung ở Nam Kỳ có 78 quận (không còn chia ra làm hai cấp phủ huyện như ở Bắc và Trung Kỳ), 197 tổng Kinh và 10 tổng Thượng, 1.470 xã (không phân biệt thôn và xã nữa) .

    Đó là tình hình nước ta: không còn quốc hiệu, và cương vực thì bị chia cắt thiếu thống nhất, suốt thời gian bị Pháp thống trị.
    Dân số nước Việt Nam thời thuộc Pháp:

    Năm 1870 có khoảng 10.000.000 người
    Năm 1901 – 13.000.000 người
    Năm 1943 – 22.600.000 người

    2. QUỐC HIỆU VÀ CƯƠNG VỰC NƯỚC TA TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

    Sau Cách mạng mùa thu, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945. Đầu năm 1946, họp Quốc hội và thành lập nuớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc hiệu Việt Nam lại xuất hiện rạng rỡ hơn hổi đầu thế kỷ 19. Nhưng từ 23-9-1945, thực dân Pháp xua quân đánh chiếm Sài Gòn và một số địa điểm khác ở miền Nam. Cuối năm 1946, Pháp đánh chiếm Hà Nội và một số địa điểm khác trên toàn quốc. Cuộc kháng chiến bắt đầu trên phạm vi cả nước. Cương vực nước ta phải cắt thành những “khu” và “liên khu” quân sự để đáp ứng nhu cầu kháng chiến. Những tỉnh, phủ, huyện cũ đuợc chia cắt hoặc dồn nhập cho thích ứng với các khu và quân khu. Tình hình diên cách lúc này hết sức phức tạp, muốn nghiên cứu kỹ, thường phải dựa trên những tư liệu hồi ký, vì thiếu các văn bản pháp qui liên tục.

    Hiệp định Genève 1954 lấy sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời cho việc chuyển quân và dự tính đến năm 1956 thì Hiệp Thương thống nhất đất nước. Nhưng miền Nam với chiến lược của Hoa Kỳ, không thi hành Hiệp định và tổ chức chính quyền riêng với danh xưng Việt Nam Cộng hòa, tồn tại tới năm 1975. Sau đây là tình hình phân ranh hành chính của hai miền trong thời gian đó:



    VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
    Thủ đô: Hà Nội
    Khu tự trị Việt Bắc, 6 tỉnh:
    1. Hà Giang
    2. Bắc Cạn
    3. Cao Bằng
    4. Thái Nguyên
    5. Tuyên Quang
    6. Lạng Sơn
    Khu tự trị Thái-Mèo, 2 tỉnh:
    1. Lai Châu
    2. Sơn La
    Khu đặc biêt, 1 tỉnh:
    1. Hồng Quảng
    Thành phố trực thuộc Trung ương:
    2. Hải Phòng
    Các tỉnh trực thuộc Trung ương, 21 tỉnh:
    1. Lào Cai
    2. Bắc Ninh
    3. Hà Đông
    4. Yên Bái
    5. Bắc Giang
    6. Hòa Bình
    7. Phú Thọ
    8. Hải Ninh
    9. Hà Nam
    10. Sơn Tây
    11. Hải Dương
    12. Thái Bình
    13. Vĩnh Phúc Yên
    14. Hưng Yên
    15. Kiến An
    16. Ninh Bình
    17. Thanh Hóa
    18. Hà Tình
    19. Nam Định
    20. Nghệ An
    21. Quảng Bình
    Trên đây là tình hình phân ranh ở miền Bắc hồi 1962. Cũng ở thời điểm đó, miền Nam tình hình phân ranh hành chính như sau:

    VIỆT NAM CỘNG HÒA
    Đô thành: Sài Gòn
    Trung nguyên Trung Phần, 10 tỉnh:
    1. Quảng Trị
    2. Bình Định
    3. Thừa Thiên
    4. Phú Yên
    5. Quảng Nam
    6. Khánh Hòa
    7. Quảng Tín
    8. Ninh Thuận
    9. Quảng Ngãi
    10. Bình Thuận

    Cao nguyên Trung Phần, 7 tỉnh:
    1. Kontum
    2. Quảng Đúc
    3. Pleiku
    4. Tuyên Đúc
    5. Phú Bổn
    6. Lâm Đồng
    7. Darlac
    Miền Đông Nam Phần, 11 tỉnh:
    1. Bình Tuy
    2. LongKhánh
    3. Phước Thành
    4. Phước Long
    5. Bình Long
    6. Biên Hòa
    7. Phuớc Tuy
    8. Gia Định
    9. Bình Duong
    10. Tây Ninh
    11. Côn Sơn

    Miền Tây Nam Phần, 13 tỉnh:
    1. Long An
    2. Kiến Tưòng
    3. Định Tường
    4. Kiến Phong
    5. Kiến Hòa
    6. Vĩnh Long
    7. An Giang
    8. Vĩnh Bình
    9. Phong Dinh
    10. Chưong Thiện
    11. Kiên Giang
    12. Ba Xuyên
    13. An Xuyên

    Ở Trung Phần bắt đầu bỏ các danh xưng phủ huyện mà dùng đơn vị quận như ở Nam Kỳ dưới thời Pháp. Tính chung miền Nam khi ấy chia ra 228 quận, 339 tống, 2.547 xã và 16.243 ấp . Có thể dễ dàng nhận thấy cấp tổng để lơi lỏng, cấp xã và ấp mất dần quyền tự trị.

    Ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, từ 1960 đến 1975, tình hình phân bổ hành chính không giữ nguyên như bảng kê trên mà thay đổi khá nhiều, cần có thêm những bảng thống kê và chú thích hơn nữa mới nắm hết được quá trình diên cách.
    Năm 1962, dân số Việt Nam có khoảng 31.275.000 người (miền Bắc có 17.000.000 và miền Nam có 14.275.000 người).

    3. CƯƠNG VỰC NƯỚC CỘNG HỔA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Ngày 30-4-1975 giải phóng Sài Gòn, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Cuối năm, tiến hành Hiệp thương Thống nhất. Đầu năm 1976, quốc hội khóa VI thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó đến nay, nhiều tên và địa phận các đơn vị hành chính đã đuợc thay đổi. Như từ năm 1976, cả nuớc chia ra 40 tỉnh, năm 1992 chia ra 53 tỉnh, năm 1997 chia ra 61 tỉnh và từ năm 2003 chia ra 64 tỉnh (59 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung ương). Dưới đây là thống kê 64 tỉnh thành vừa kể:
    (Bản đồ 31)

    [​IMG]

    DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, MẬT ĐỘ DÂN CƯ CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ